Loading...
Skip to main content

Thực tiễn xét xử các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi ở Việt Nam trong những năm gần đây

(12/10/2022 09:21)

Thực tiễn xét xử các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi ở Việt Nam trong những năm gần đây

Phụ nữ, người dưới 18 tuổi bị bạo lực là vấn đề đáng báo động ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, tình trạng bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi thời gian gần đây có diễn biến rất phức tạp và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng xâm hại gồm cả những người thân thiết, ruột thịt của người bị hại, xâm phạm nghiêm trọng tới quyền con người, làm tổn thương nặng nề đến thể chất và tinh thần của phụ nữ, người dưới 18 tuổi; gây bất an cho các gia đình nạn nhân và bức xúc trong dư luận xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, nếp sống văn hóa, đạo đức, lối sống, gây mất trật tự an toàn xã hội.

Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế về bảo đảm quyền con người nói chung, bảo đảm quyền của phụ nữ, người dưới 18 tuổi bị bạo lực nói riêng với những cam kết bảo đảm mọi hành vi xâm hại phụ nữ, người dưới 18 tuổi phải được xử lý nghiêm minh, mọi tổn thương về thể chất, tinh thần, tâm lý,…của phụ nữ, người dưới 18 tuổi cần được “xoa dịu”, đặc biệt là ngay trong các giai đoạn tố tụng hình sự.

Trong những năm qua, các cơ quan, tổ chức xã hội đặc biệt quan tâm đến công tác đấu tranh phòng, chống những hành vi bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi, trong đó các Cơ quan tiến hành tố tụng đã phát hiện và đưa ra xử lý kịp thời nhiều vụ án, người phạm tội bị trừng trị với mức án nghiêm khắc, tuy nhiên tình trạng xâm hại đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi vẫn chưa giảm mạnh. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường trách nhiệm, đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác phòng chống những hành vi bạo lực phụ nữ, người dưới 18 tuổi.

Trong phạm vi bài viết này chúng tôi đề cập về thực tiễn công tác xét xử các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi ở Việt Nam trong những năm gần đây một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác xét xử các loại tội phạm trên.

1- Tình hình xét xử các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi ở Việt Nam trong 3 năm (2017-2020).

Theo thông kê của Tòa án nhân dân tối cao trong 3 năm (2017-2020) Tòa án hai cấp đã xét xử sơ thẩm tổng số 192.001 vụ án hình sự, với 329.108 bị cáo.

- Năm 2018: 55.113 vụ; với 92.659 bị cáo;

- Năm 2019: 63.973 vụ, với 105.755 bị cáo;

- Năm 2020: 72.915 vụ, với 130.694 bị cáo.

Trong đó có 6.320 vụ, với 7.118 bị cáo có hành vi bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi; Tỷ lệ vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi: 6.320vụ/192.001 vụ, chiếm tỷ lệ 3,29% tổng số các vụ án đã xét xử;

Tỷ lệ bị cáo bị xét xử về các tội bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi là 7.118 bị cáo/329.108 bị cáo, chiếm tỷ lệ 2,16% tổng số bị cáo bị xét xử sơ thẩm, bao gồm các tội danh sau (có phụ lục kèm theo):

- Tội Giết người: 313 vụ, với 337 bị cáo;

- Tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: 826 vụ, với 973 bị cáo;

- Tội Hiếp dâm: 465 vụ, với 519 bị cáo;

- Tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi: 1.323 vụ, với 1.422 bị cáo;

- Tội Cưỡng dâm: 29 vụ, với 42 bị cáo;

- Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: 86 vụ, với 89 bị cáo;

- Tội Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: 2.054 vụ, với 2.123 bị cáo;

- Tội Dâm ô với người dưới 16 tuổi: 718 vụ, với 743 bị cáo;

- Tội Mua bán người: 192 vụ, với 306 bị cáo;

- Tội Mua bán người dưới 16 tuổi: 91 vụ, với 176 bị cáo;

- Tội Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi: 17 vụ, với 18 bị cáo;

- Tội Làm nhục người khác: 127 vụ, với 214 bị cáo;

- Tội Bắt, giữ, giam người trái pháp luật: 79 vụ, 156 bị cáo.

Qua thống kê các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi mà Tòa án hai cấp đã xét xử sơ thẩm tập trung chủ yếu vào nhóm các tội xâm hại tình dục phụ nữ và người dưới 18 tuổi: 4.675 vụ án, với 4.938 bị cáo; chiếm tỷ lệ: 73,9%. Các tội phạm còn lại 1.645 vụ, với 2.180 bị cáo; chiếm tỷ lệ: 26,1%. Đồng thời, thấy rằng tình trạng bạo lực đối với phụ nữ và người dưới 18 tuổi có su hướng tăng lên trong những năm gần đây cụ thể: Năm 2018: 1.343 vụ, với 1.421 bị cáo; Năm 2019: 1.458 vụ, với 1.546 bị cáo; Năm 2020: 1.874 vụ, với 1.971 bị cáo.

Trong số các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi thì tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là 2.054 vụ, với 2.123 bị cáo, chiếm 32,5%; Tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi: 1.323 vụ, với 1.422 bị cáo, chiếm 21%; Tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: 826 vụ, với 973 bị cáo, chiếm 13%. Các tội còn lại chiếm 33,5%.

Qua công tác xét xử cho thấy, các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi xảy ra ở 63/63 tỉnh, thành phố trên cả nước; không chỉ xảy ra ở vùng nông thôn, vùng còn khó khăn, đặc biệt khó khăn, mà tại các tỉnh, thành phố lớn, có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển cũng đang có xu hướng gia tăng. Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội là 2 trong 10 địa phương có số vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi nhiều nhất trong cả nước.

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao thì hình phạt chính Tòa án hai cấp đã xét xử sơ thẩm áp dụng đối với 4.938 bị cáo về các tội xâm hại tình dục phụ nữ, người dưới 18 tuổi; (Các tội còn lại không có thống kê cụ thể về hình phạt).

- Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt: 01 bị cáo;

- Phạt cải tạo không giam giữ: 05 bị cáo;

- Phạt tù nhưng cho hưởng án treo: 271 bị cáo

- Phạt tù từ 03 năm trở xuống: 2.063 bị cáo

- Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: 1.482 bị cáo

- Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: 775 bị cáo

- Phạt tù trên 15 năm đến 20 năm: 322 bị cáo;

- Phạt tù chung thân và tử hình: 19 bị cáo;

Tính chất, mức độ nghiêm trọng của các vụ án xâm hại phụ nữ, người dưới 18 tuổi cũng có xu hướng ngày càng tăng lên. Nhiều vụ án xảy ra có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự suy đồi đạo lý nghiêm trọng, coi thường tính mạng, sức khỏe và nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em, gây bức xúc trong dư luận xã hội, như bố đẻ hiếp dâm con gái ruột, anh trai hiếp dâm em gái, người chồng hiếp dâm con riêng của vợ, có thể nêu ra một số vụ án điển hình như:

- Vụ Bùi Văn Tr, sinh năm 1982, trú quán: Thôn Hương C, xã Phú H, huyện LT, tỉnh Bắc Ninh. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 6/2018 đến ngày 01/9/2018, Bùi Văn Tr đã 03 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Nguyễn Thị Ngọc Ch, sinh ngày 19/12/2008 (cháu Ch là con riêng của chị Nguyễn Thị Th - Vợ Tr). Lần thứ nhất vào khoảng cuối tháng 6/2018, lần 2 vào khoảng đầu tháng 7/2018 và lần 3 vào 13h ngày 01/9/2018, khi Tr đang thực hiện hành vi giao cấu với cháu Ch thì bị chị Th bắt quả tang. Tại bản án số 01/2019/HSST ngày 07/01/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã xử phạt bị cáo Bùi Văn Tr 18 năm tù về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật hình sự.

Hoặc trường hợp nhiều người hiếp dâm một người, người bị hại trong vụ hiếp dâm còn quá nhỏ tuổi, ngây thơ và kém hiểu biết, xâm hại tình dục làm người bị xâm hại mang thai và sinh con...như vụ: Vương Đức Qu, sinh năm 1999; Vương Đức T, sinh năm 1995; Vương Đức Đ, sinh năm 1993 đều cư trú tại thôn Đại Đồng Th, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 21h30’ ngày 14/01/2020, tại nhà nghỉ Thùy Dương ở thị trần H, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh được sự đồng ý, Vương Đức Đ đã có hành vi giao cấu với cháu Phạm Thị Hải A, sinh ngày 24/9/2006. Sau khi đi chơi, khoảng 23h cũng tại nhà nghỉ Thùy Dương, Vương Đức Qu có hành vi giữ tay để Vương Đức T giao cấu trái ý muốn với cháu Hải A. Sau khi T về, Vương Đức Qu lại quan hệ tình dục với cháu Hải A làm cháu có thai. Tại bản án số 01/2020/HSST ngày 14/10/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã xử phạt Vương Đức Qu 05 năm tù về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi, 04 năm tù về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 09 năm tù. Vương Đức T 06 năm tù về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Vương Đức Đ 01 năm tù về tội Giao cấu với người tù đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Nhiều vụ án xâm hại tình dục xảy ra do xuất phát từ việc gia đình không quan tâm trong việc quản lý, chăm sóc các em trong cuộc sống hàng ngày; trong khi đó, các trẻ em gái hoặc các phụ nữ trẻ bị bệnh tâm thần hoặc hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là những đối tượng non nớt về kinh nghiệm sống và thiếu khả năng tự bảo vệ mình trước các cạm bẫy của xã hội, rất dễ trở thành đối tượng bị xâm hại tình dục.

Ví dụ như vụ Nguyễn Đương T, sinh năm 1967; trú tại thôn Dương H, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Gia đình T và gia đình cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/11/2008 có họ hàng với nhau nên hàng ngày cháu H vẫn thường sang nhà T chơi với cháu nội của T. Cháu H bị thiểu năng trí tuệ nên gia đình không cho đến trường. Khoảng 8h30’ ngày 01/8/2016, cháu H đi bộ một mình sang nhà T chơi, gia đình T chỉ có một mình T ở nhà. T đã có hành vi giao cấu với cháu H mới chưa đủ 08 tuổi. Tại bản án số 38/2016/HSST ngày 28/11/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Đương T 08 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự năm 1999.

Vụ Nguyễn Quảng Ng, sinh năm 1971, trú tại thôn Đ, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Do là người cùng thôn với cháu Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 26/8/2010 nên bị cáo biết cháu Nh bị hạn chế khả năng nhận thức và điểu khiển hành vi. Vào cuối giờ chiều cuối tháng 01/2020, Ng đã có hành vi giao cấu trái ý muốn của cháu Yến Nh tại lán thu gom phế liệu của bị cáo. Tại bản án số 06/2021/HSST ngày 29/01/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã xử phạt Nguyễn Quảng Ng 20 năm tù về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật hình sự.

Vụ bắt cóc trẻ em xảy ra tại thành phố Bắc Ninh vào ngày 21/8/2020 được các cơ quan báo chí và dư luận xã hội cả nước quan tâm, như vụ Nguyễn Thị Th, sinh năm 1988, trú tại tổ 3, phường SB, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Khoảng 17h10’ ngày 21/8/2020, tại khuôn viên khu vui chơi ở Công viên Nguyễn Văn Cừ thuộc phường Đại phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Thị Th đã có hành vi lén nút dụ dỗ nhằm chiếm đoạt cháu Nguyễn Cao Gia B, sinh ngày 05/4/2018 là con của anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 và chị Cao Thị Ngọc Y, sinh năm 1985, mục đích của bị cáo để mang về nuôi. Đến 5h sáng ngày 22/8/2020 bị cáo đi mô tô trở cháu Gia B về thành phố C, tỉnh Cao Bằng, đến 21h cùng ngày thì lực lượng Công an tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an tỉnh Cao Bằng đến giải cứu cháu Gia B và bắt giữ Th. Tại bản án số 02/2020/HSST ngày 30/10/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Thị Th 05 năm tù về tội Chiếm đoạt người dưới 16 tuổi theo khoản 1 Điều 153 Bộ luật hình sự.

Nhiều bị cáo đã sử dụng mạng xã hội Zalo, Facebook để chửi bới, đe dọa, lăng mạ, nhằm mục đích súc phạm làm nhục người khác như vụ án: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1973; cư trú tại khu 7 phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Lăng Văn V, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Trại M, xã B, huyện TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc. Do mâu thuẫn trong việc chị Dương Thị H, sinh năm 1993, nơi cư trú: xóm Trạ, xã Y, huyện YM, tỉnh Ninh Bình đăng bài nói xấu quán Nhắng nướng Hiền Th trên Facebook. Khoảng 23h ngày 18/8/2020 tại quán Nhắng nướng Hiền Th thuộc khu 10, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn Th đã tát một cái vào mặt chị H và bắt chị H quỳ gối xuống đất để nói chuyện với Th, đồng thời lấy điện thoại của mình vào mạng Facebook bằng tài khoản “Nhắng nướng Hiền Th” của Th rồi bật chế độ quay phát trực tiếp trên mạng Livestram. Sau đó Th đưa điện thoại cho Lăng Văn V sử dụng để quay phát trực tiếp trên mạng Facebook. Quá trình phát trực tiếp, Th liên tục chửi bới, lăng mạ, đe dọa chị H đồng thời Th đưa cho chị H một tờ giấy do Th đọc cho V viết trước đó, với nội dung: Chị H xin lỗi cộng đồng mạng xã hội Facebook, vì việc chị H đăng tải đồ ăn “Nhắng nướng Hiền Th” có sán là không có thật. Đồng thời Th yêu cầu chị H tự ký tên vào tờ giấy đó, chụp ảnh và đăng tải đính chính lên mạng Facebook bằng tài khoản “Bà Mọ” của H. Chị H xin Th cho về, Th bảo “Ngửa mặt lên tao tát cho phát, cho nhớ” rồi rút dép đang đi ở chân ra, đánh một cái vào mặt chị H. Do sợ hãi, căng thẳng, nên khi bị Th đánh, chị H ngã ra và có dấu hiệu bị co giật và mọi người đưa đến bênh viện đa khoa Kinh Bắc để khám. Được bác sỹ can thiệp thì chị H tỉnh táo, hết co giật và xin về nhà.Sau sự việc sảy ra chị H bị ảnh hưởng về sức khỏe, tinh thần, phải nghỉ làm, ở nhà không dám ra ngoài gặp ai. Ngày 02/10/2020, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tổ chức xét xử lưu động vụ án trên tại Nhà văn hóa khu 9, phường Đ, thành phố Bắc Ninh nhằm tuyên truyền giáo dục pháp luật cho người dân. Tham dự phiên tòa có hàng nghìn người dân và hàng chục phóng viên báo, đài Trung ương và địa phương đến dự, đưa tin. Tại bản án số 01/2020/HSST ngày 02/10/2020, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 12 tháng tù giam; Lăng Văn V 09 tháng tù giam về tội Làm nhục người khác theo điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.

Nhiều phụ nữ và trẻ em sinh sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi kinh tế đặc biệt khó khăn, nghỉ học sớm muốn tìm kiếm việc làm ở thành phố hoặc khu công nghiệp tập trung đã bị một số đối tượng lừa đảo giả vờ đưa vào các nhà máy, xí nghiệp để làm công nhân, có mức lương cao nhưng thực tế chúng lại đưa vào các nhà nghỉ, khách sạn, quán Karaoke làm nhân viên phục vụ. Khi phát hiện ra công việc không phải như đã thỏa thuận, mọi người phản ứng thì chúng đánh, giam giữ người và bắt làm công việc nhân viên phục vụ…trái với ý muốn của bị hại.

Như vụ án: Hà Anh Th, sinh năm 1992 và 06 bị cáo khác phạm tội Giữ người trái pháp luật. Hà Thanh Th là quản lý phòng hát Karaoke của khách sạn DY Hoa Viên tại đường Ngô Tất Tố, phường N, thành phố Bắc Ninh có rủ Đinh Thị Thùy T, sinh năm 2001, Đinh Ngọc D, Dà Văn Đ, Cao Thanh T1, Hà Anh T2, Phùng Ngọc T3 đều trú tại: Khu 12, xã Đ, huyện Th, tỉnh Phú Thọ xuống khách sạn Hoa Viên làm nhân viên phục vụ Karaoke. Đầu tháng 12/2019, Đinh Thị Thùy T có rủ Quàng Thị T4, sinh ngày 30/8/2004; Trần Huyền Tr, sinh ngày 18/11/2004; Phạm Lan A, sinh ngày 24/3/2002, Hà Thị Nh, sinh ngày 22/8/2005, Phùng Thùy L, sinh ngày 13/10/2004, Hà Thị Diễm Qu, sinh ngày 19/9/2005, Hà Thị Như Y, sinh ngày 17/01/2006, Trần Thị Xuân Qu, sinh năm 1999, Đặng Thị Nh, sinh ngày 05/01/2002, Đinh Thị Lệ Gi, sinh ngày 01/10/2003, Hà Thị Tố U, sinh ngày 20/11/2003, Hà Trà M, sinh ngày 23/8/2004 đều trú tại xóm Đ, xã V, huyện TS, tỉnh Phú Thọ xuống Bắc Ninh và đưa vào khách sạn Hoa Viên làm nhân viên phục vụ quán hát Karaoke.Tất cả 12 nhân viên được Th, Thùy T bố trí ăn, ở sinh hoạt tại phòng 505, tầng 5 của khách sạn Hoa Viên. Theo sự phân công của Th và Thùy T các đối tượng Ph, T1, T2, T3 và D quản lý chặt chẽ các nhân viên. Sau khi các nhân viên phục vụ tại các phòng hát của khách sạn xong đều phải trở lại phòng 505, tầng 5 khách sạn DY Hoa Viên và bị khóa lại từ 24h ngày hôm trước đến khoảng 12h ngày hôm sau, khi đến bữa ăn các nhân viên quản lý sẽ mở cửa để các nhân viên xuống ăn cơm, sau khi ăn cơm xong các nhân viên nữ lại trở về phòng 505 và bị khóa cửa ngoài lại, đến khoảng 18h thì lại mở cửa cho các nhân viên ăn tối, trang điểm và tập trung tại tầng 3 để phục vụ các phòng hát đến khi kết thúc lại trở về phòng 505 và bị khóa của ngoài.

Trưa ngày 20/12/2019, khi Th, Thùy T và tất cả các nhân viên xuống ăn cơm thì Quàng Thị T4 không ăn cơm, khóc và đòi về nhà. Đến chiều cùng ngày, sau khi bị Ph dùng dây lưng đánh và khóa cửa ngoài phòng 505 cùng các nhân viên nữ, do Quàng Thị T4 không có điện thoại nên đã mượn điện thoại của Tr nhắn tin về cho bố mẹ đẻ là ông Quàng Văn H để báo tin về việc T4 bị đánh, nhốt tại phòng 505, tầng 5 khách sạn Hoa Viên. Được ông H trình báo, Công an thành phố Bắc Ninh đã đến giải cứu 12 người và bắt giữ Hà Anh Th cùng 06 đồng phạm về hành vi giữ người trái pháp luật. Tại bản án số 165/2020/HSST ngày 18/9/2020, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt: Hà Anh Th, 42 tháng tù, Đinh Thị Thủy T, 38 tháng tù, Đinh Ngọc Ph 36 tháng tù, Hà Văn D 30 tháng tù. Cao Thanh T1, Hà Anh T2, Phùng Ngọc T3 mỗi bị cáo 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Giữ người trái pháp luật theo điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự.

Đối với các vụ án xét xử các bị cáo về tội Giết người, Cố ý gây thương tích mà nạn nhân là phụ nữ, người dưới 18 tuổi đều xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: Do mâu thuẫn trong giải quyết tranh chấp chia tài sản thừa kế; tranh chấp về đất đai giữa các gia đình liền kề; mâu thuẫn trong kinh doanh, buôn bán; mâu thuẫn do ghen tuông trong quan hệ tình cảm; mâu thuẫn vợ chồng do người chồng nghiện rượu, cờ bạc, ma túy…các vụ án trên đều được Tòa án xét xử kịp thời, áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, đồng thời luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và người dưới 18 tuổi.

Vụ án: Lê Văn M, sinh năm 1971; nơi cư trú Ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Do Lê Văn M nghi ngờ vợ mình là Hà Tuyết N và Lê Văn E có quan hệ bất chính đã nhiều lần khuyên can nhưng bà N không thừa nhận. Vào khoảng 15h ngày 06/8/2017 bà N điện thoại cho ông E rủ đến nhà anh H xã Đ, huyện Q để tập huấn việc bán sữa. Ông E đồng ý và đến chở bà N, khi đi đến nơi thì không có tập huấn nên tổ chức uống rượu. Đến 17h, sau khi đi làm ruộng về M nghe nói ông E chở bà N đi tập huấn bán sữa nên M lội qua sông cầm theo một cây dao đi đến chòi để xe của gia đình ngồi để rình. Đến 21 giờ nghe thấy tiếng xe về nên M đi ra khỏi chòi. ông E trở bà N về, bà N mở cửa vào chòi đứng gọi điện thoại cho những người đi cùng hỏi về đến nhà chưa, ông E dắt xe vào sau, ngay lúc này M dùng dao chém liên tiếp vào người bà N, ông E can ngăn thì bị chém trúng vào tay phải, bà N chạy thoát ra ngoài, M đuổi theo tiếp tục đánh bà N bằng tay. Sau đó bà N được đưa đi bệnh viện cấp cứu, M đến cơ quan Công an đầu thú.

Tại bản kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 33%. Tại bản án sơ thẩm số 19/2018/HSST ngày 10/7/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt Lê Văn M, 24 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Vụ án: Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; Cư trú tại: xóm B, xã NB, huyện N, tỉnh Nghệ An: Nguyễn Văn T và bà Trần Thị S, sinh năm 1943 là hàng xóm cạnh nhà nhau, Nguyễn Văn T thường sang nhà bà S chơi và trêu chọc bà S, nên bị bà S chửi và có lời xúc phạm đến T, đến khoảng 21h ngày 01/12/2019, khi T đang đứng trước cổng nhà mình, nhớ lại những lần bị bà S chửi bới, xúc phạm mình, nên T bức xúc đi vào nhà cầm một con dao dài 115cm đi sang nhà bà S, khi sang đến cổng nhà bà S, thấy cổng ngoài khóa. T chèo lên tường rào để vào trong nhà bà S. Khi đang đứng trên tường rào, bà S đang soi đèn pin bắt ốc sên trong vườn nhìn thấy hốt hoảng kêu lên “vớ trời ơi” và đi vào nhà. T nhảy xuống phía trong vườn, rồi cầm dao đuổi theo bà S đến sân, T nói “bà cứ nói suốt, mả cha bà nha ai làm người đó chịu, đừng nói cả họ nha” nói xong T dùng hai tay cầm dao dơ lên chém một nhát theo hướng từ trên xuống dưới vào đầu bà S. bà S quay mặt vào trong nhà hô to “các cháu ơi chạy đi”, thì T chém tiếp một nhất nữa theo hướng từ trên xuống dướí vào đầu bà S làm bà S ngã gục xuống sân. Sau đó T cầm dao đi ra trèo qua tường về nhà mình. Bà S được mọi người đưa đi cấp cứu, nhưng đã tử vong. Sau khi sảy ra vụ án, Nguyễn Văn T đã đến Công an huyện N đầu thú và khai báo hành vi phạm tội của mình. Tại bản án số 70/2020/HSST ngày 09/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xử phạt Nguyễn Văn T, tù chung thân về tội Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

2. Đánh giá kết quả xét xử các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi ở Việt Nam trong thời gian qua

- Trong quá trình xét xử, giải quyết các vụ án mà nạn nhân là phụ nữ, người dưới 18 tuổi, có thể nói rằng các đơn vị Tòa án đã luôn bám sát các nguyên tắc về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ, người dưới 18 tuổi nói riêng, được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự; pháp luật hôn nhân và gia đình; pháp luật về bình đẳng giới; pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, đó là: chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, về quyền của phụ nữ, người dưới 18 tuổi; hành vi bạo lực nói chung và bạo lực về tình dục nói riêng phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật; nạn nhân bị bạo lực được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực nói chung và bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi nói riêng.

- Trong quá trình xét xử các vụ án hình sự và xét xử các vụ án mà nạn nhân là phụ nữ, người dưới 18 tuổi, Tòa án đã chủ động phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo giải quyết tốt vụ án, đặc biệt là các vụ án lớn, trọng điểm được dư luận xã hội quan tâm. Đến nay, đa số Tòa án cấp tỉnh, cấp huyện đã xây dựng được quy chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, định kỳ trao đổi, thống nhất những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật, nhằm đảm bảo giải quyết tốt vụ án, tránh tình trạng trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhiều lần giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng hạn luật định.

- Tòa án các cấp luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc Thông tư liên tịch số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi; Công văn số 68/TANDTC ngày 08/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử tội phạm xâm phạm tình dục và bạo hành trẻ em; Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145,146,147 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Theo đó:

+ Khi giải quyết vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán có kinh nghiệm xét xử các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi hoặc đã được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi hoặc đã được đạo tạo bồi dưỡng về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi. Phân công 01 Hội thẩm là giáo viên, cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi;

+ Khi tổ chức xét xử vụ án xâm hại tình dục có bị hại dưới 18 tuổi thì áp dụng thủ tục rút gọn đối với các trường hợp đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Thời hạn đưa vụ án ra xét xử không quá trong 1/2 thời hạn pháp luật cho phép đối với trường hợp tương ứng;

+ Đối với những vụ án có người bị hại là người chưa đủ 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán thì Tòa án phải xét xử kín; đối với những vụ án khác có yêu cầu của người dưới 18 tuổi, người đại diện hợp pháp của họ hoặc để giữ đời tư, bảo vệ người dưới 18 tuổi thì Tòa án cũng có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai đúng quy định tại Điều 327 Bộ luật tố tụng hình sự. Khi tuyên án Hội đồng xét xử chỉ đọc phần quyết định của bản án;

+ Khi tham gia xét xử, thẩm phán mặc trang phục làm việc hành chính của Tòa án nhân dân, không mặc áo choàng;

+ Xử án tại phòng xét xử thân thiện theo đúng quy định tại Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

+ Tòa án phải thông báo cho người bị hại là người dưới 18 tuổi hoặc cho mẹ, người đại diện hợp pháp, người giám hộ của họ về quyền nhờ Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý; bào chữa viên nhân dân; người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại là người dưới 18 tuổi. Trường họp họ không lựa chọn được người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại nhưng có văn bản đề nghị thì Tòaányêu cầu Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý hoặc Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại là người dưới 18 tuổi;

+ Hạn chế triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa nếu vẫn giải quyết đươc vụ án bằng việc áp dụng các biện pháp thay thế khác (sử dụng lời khai của họ tại giai đoạn điều tra, truy tố; mời họ đến Tòa án hoặc địa điểm hợp pháp khác để lấy lời khai trước bằng văn bản, ghi âm, ghi hình có âm thanh...);

+ Trường hợp phải triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa, Tòa án cần tạo điều kiện để họ làm quen, tiếp xúc với môi trường Tòa án, với quy trình và thủ tục xét xử; bố trí cho họ ngồi ở phòng cách ly và sử dụng các thiết bị điện tử (ví dụ như Micro, loa, ti vi, camera...) để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của họ khi họ khai báo, tham gia tố tụng tại phiên tòa; trường hợp không bố trí được phòng cách ly thì để họ ngồi ở phòng xử án nhưng phải có màn che ngăn cách với khu vực của bị cáo và khoảng cách giữa Hội đồng xét xử với bị hại là người dưới 18 tuổi không quá 3m;

+ Trình tự xét hỏi tại phiên tòa luôn tuân thủ quy định tại Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

+ Không công khai bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến vụ án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án.

- Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao, trong thời gian qua Tòa án các cấp đã khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh các vụ án mà nạn nhân là phụ nữ, người dưới 18 tuổi, đáp ứng yêu cầu chính trị của các địa phương cũng như của cả nước.

- Công tác tổ chức các phiên toà xét xử các vụ án hình sự mà nạn nhân là phụ nữ và người dưới 18 tuổi đều được Tòa án cân nhắc kỹ lưỡng, đảm bảo vừa làm rõ các tình tiết của vụ án, đồng thời đảm bảo thuần phong mỹ tục, các yếu tố văn hoá; bảo vệ danh dự, phẩm giá của con người và không gây tác động tiêu cực đến tâm lý của người bị hại, đặc biệt là người dưới 18 tuổi. Hình phạt mà các Tòa án áp dụng đối với các bị cáo phạm tội liên quan đến bạo lực đối với phụ nữ và người dưới 18 tuổi về cơ bản đảm bảo nghiêm minh, đúng quy định, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về bạo lực đối với phụ nữ và người dưới 18 tuổi nói riêng trong tình hình hiện nay. Một số Tòa án cũng đã chú trọng việc phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương để làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật và tinh thần đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm về bạo lực phụ nữ, người dưới 18 tuổi nói riêng trong nhân dân, góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật nâng cao nhận thức của người dân trong việc xây dựng gia đình văn hóa, xã hội văn minh, bảo vệ quyền và lợi ích cũng như danh dự, nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em gái. Tại phiên tòa, bên cạnh việc xét hỏi để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo, xác định sự thật của vụ án, Hội đồng xét xử luôn chú trọng công tác giáo dục pháp luật thông qua việc giải thích pháp luật, phân tích cho các bị cáo và những người tham dự phiên tòa hiểu rõ về hậu quả và những hệ lụy phát sinh từ hành vi bạo lực đối với phụ nữ và người dưới 18 tuổi.

- Công tác xét xử lưu động đối với các vụ án mà nạn nhân là phụ nữ cũng được các Tòa án quan tâm thực hiện. Tòa án hai cấp đã lựa chọn các vụ án điểm về các tội xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự của phụ nữ đưa đi xét xử lưu động tại địa bàn xảy ra vụ án góp phần tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân trong việc đấu tranh phòng ngừa các loại tội phạm này.

3- Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi

Xuất phát từ đặc trưng của các vụ án bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi là các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, trong quá trình giải quyết các vụ án này còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:

- Các tội liên quan đến bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi xảy ra chủ yếu tập trung ở các tội: Cố ý gây thương tích, hiếp dâm, hiếp dâm người đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, dâm ô với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; đặc biệt còn có tội giết người mà nạn nhân là người dưới 18 tuổi...các đối tượng phạm tội đa số là nam giới, ở nhiều độ tuổi khác nhau, thường sử dụng bạo lực như đe dọa, đánh đập, giam giữ nạn nhân, ép nạn nhân phải thực hiện theo yêu cầu của mình, một số trường hợp có hành vi dụ dỗ và dọa nạt, lợi dụng nạn nhân thiếu hiểu biết nhận thức hoặc không có khả năng tự bảo vệ nên không dám tố cáo hành vi của mình. Nạn nhân là phụ nữ, người dưới 18 tuổi ở các lứa tuổi khác nhau; có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, thiếu sự quan tâm, chăm sóc của người lớn, thiếu sự hiểu biết. Có nạn nhân mới chỉ 08 - 09 tuổi, chưa có khả năng nhận biết về các hành vi đồi bại mà các em đang phải hứng chịu từ chính những người có quen biết hoặc người thân trong gia đình.

- Trong một số vụ án việc xác định tuổi của người bị hại gặp nhiều khó khăn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người bị hại để xác định người bị hại có phải là người dưới 13, 16 hoặc dưới 18 tuổi hay không. Có trường hợp bị hại không có giấy khai sinh gốc, hoặc có giấy khai sinh nhưng ngày, tháng, năm sinh không chính xác hoặc giấy khai sinh chỉ ghi năm sinh. Có vụ án cha mẹ người bị hại nhớ nhầm ngày sinh của người bị hại (ngày âm lịch, ngày dương lịch) nên cấp phúc thẩm phải hủy án của cấp sơ thẩm. Cũng có trường hợp lời khai của bố, mẹ bị hại và giấy tờ, lý lịch trong hồ sơ về ngày, tháng, năm sinh giống nhau nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại thu được những chứng cứ khác với tài liệu kể trên.

Có trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng đã làm các thủ tục để tiến hành giám định tuổi của họ nhưng kết quả giám định của các cơ quan chuyên môn lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với tài liệu điều tra khác nên gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án trong việc đánh giá, sử dụng tài liệu chứng cứ.

Ví dụ: Vụ án Vương Đức Qu, Vương Đức T, Vương Đức Đ, hiếp dâm người dưới 16 tuổi và giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nêu ở phần trên. Trong quá trình điều tra, phía gia đình cháu Phạm Thị Hải A có giao cho Cơ quan điều tra giấy khai sinh, thẻ học sinh của cháu Hải A, sổ hộ khẩu của gia đình. Các giấy tờ tài liệu này đều thể hiện cháu Phạm Thị Hải A, sinh ngày 03/8/2007. Tuy nhiên, tại sổ đẻ năm 2006-2007 lưu giữ tại trạm y tế xã Đại Đồng Th, huyện Th thể hiện chị Vương Thị T sinh con thứ 2 (tức cháu Hải A) vào ngày 24/9/2006. Do có sự khác nhau về ngày, tháng, năm sinh của cháu Hải A trong giấy khai sinh với sổ đẻ nên cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tuổi của cháu Hải A. Tại bản Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 17/20/GĐT ngày 12/5/2020 của Viện pháp y quốc gia Bộ Y tế kết luận: Qua kết quả khám lâm sàng, sự phát triển thể chất của cơ thể, sự mọc răng và dấu hiệu cốt hóa các đầu xương qua các phim chụp X quang, xác định Phạm Thị Hải A có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến 14 tuổi 6 tháng (tại thời điểm giám định ngày 11/5/2020). Với các tài liệu đã thu thập cơ quan điều tra xác định: Tại thời điểm xẩy ra vụ án thì cháu Hải A hơn 13 tuổi và sinh ngày 24/9/2006 như trong sổ đẻ đang lưu giữ tại Trạm y tế xã Đại Đồng Th, huyện Th. Căn cứ vào kết quả giám định về độ tuổi của cháu Hải A, VKS nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Qu về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; T, Đ về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

- Khi xảy ra hành vi xâm hại tình dục đối với người dưới 18 tuổi, để có căn cứ khởi tố, truy tố và xét xử đối tượng về tội danh gì trong các tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, thì cần phải có kết luận giám định pháp y và những vật chứng có liên quan để làm căn cứ, khẳng định ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Trên thực tế, có nhiều vụ xâm hại tình dục đối với người dưới 18 tuổi nhưng không đủ cơ sở để đưa người phạm tội ra trước pháp luật. Có nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, gia đình biết nhưng lưỡng lự trong cách giải quyết do lo sợ ảnh hưởng đến tương lai của các em, dẫn đến trình báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng, nên đã vô tình tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết. Có một số trường hợp, sau khi bị xâm hại tình dục suốt một thời gian dài, người bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội do sợ danh dự, nhân phẩm của bản thân và gia đình bị ảnh hưởng. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (vùng kín bị hóa sẹo, không thu được tinh dịch…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi.

- Đặc trưng cơ bản của hành vi bạo lực gia đình là hành vi của các thành viên trong gia đình gây tổn hại cho nhau. Do đó, khi xảy ra các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi thì thường được hòa giải hoặc giải quyết nội bộ trong gia đình, chứ không có đơn trình báo tới các cơ quan chức năng để xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự. Vì vậy rất khó khăn cho công tác nắm tin báo, tố giác về tội phạm.

- Về phía các nạn nhân bị bạo lực là phụ nữ, người dưới 18 tuổi do không nhận thức được đầy đủ quyền của mình nên không dám đấu tranh mà cam chịu bạo lực dẫn đến quá trình đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội của các bị can gặp khó khăn (bị can không nhận tội, bị hại không hợp tác điều tra); vụ án xảy ra ở nơi vắng vẻ, chỉ có đối tượng và nạn nhân tại hiện trường, không có nhân chứng trực tiếp. Do vậy, việc thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn.

- Người có hành vi phạm tội và người bị hại thường có quan hệ thân thích hoặc quan hệ phụ thuộc, như: Vợ - chồng, cha - con, con nợ - chủ nợ…mà người bị hại vì quan hệ tình cảm hoặc vì bị đe dọa trả thù mà không dám đứng ra tố cáo người có hành vi phạm tội hoặc không hợp tác với cơ quan điều tra để lấy lời khai, không đi giám định thương tích …

- Về sử dụng kết quả giám định: Công tác giám định tư pháp đóng vai trò rất quan trọng trong việc xử lý vụ án hình sự. Kết luận giám định là chứng cứ (điểm d Điều 87 BLTTHS năm 2015) để xác định có hay không có hành vi phạm tội, cơ chế hình thành dấu vết, tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; những tình tiết liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án, để đảm bảo việc xử lý vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật. Trong thực tế điều tra, truy tố, xét xử còn có khó khăn, vướng mắc trong giải quyết vụ án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. Khi giám định lại thì cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng kết quả giám định nào (kết quả giám định lần đầu; kết quả giám định lại lần thứ nhất hay kết quả giám định lại lần thứ hai…) để làm căn cứ truy tố và xét xử đối với hành vi phạm tội?

- Tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi quy định tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự:

“a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ tủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. …Khoản 3 Điều 142 quy định… c) Đối với người dưới 10 tuổi.

Như vậy, điều luật chưa quy định hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi.

- Tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145, 146 Bộ luật hình sự năm 2015 mới chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với người đủ 18 tuổi. Như vậy, nếu một người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn hiện nay một bộ phận không nhỏ ở độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi có hành vi phạm tội này. Đây là điểm hạn chế trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này.

- Tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự có đề cập đến việc công khai xin lỗi người bị hại. Tuy nhiên, thủ tục công khai việc xin lỗi như thế nào thì hiện nay chưa được giải thích cụ thể nên khó áp dụng trong thực tiễn, đặc biệt là trong thực tiễn xét xử các vụ án về xâm hại phụ nữ, người dưới 18 tuổi.

4- Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án bạo lực đối với phụ nữ,người dưới 18 tuổi

* Một số giải pháp:

- Cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Luật bình đẳng giới; Luật hôn nhân và gia đình; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em...nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về bạo lực gia đình. Giáo dục bình đẳng giới phải được thực hiện ngay từ trong gia đình đến nhà trường và xã hội để định hình nhận thức; phải nâng cao nhận thức của cả hai giới về quyền và nghĩa vụ của họ trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình.

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại tình dục và hỗ trợ tư vấn pháp lý khi cần thiết là một biện pháp cần làm. Khi bị xâm hại tình dục, nạn nhân và gia đình phải trình báo ngay cho cơ quan Công an để được hỗ trợ tư vấn, giải quyết tránh để lọt tội phạm. Quan trọng nhất, gia đình cùng nhà trường cần giáo dục, trang bị kỹ năng sống cho các em; phổ biến những kiến thức về giới tính một cách khéo léo, lành mạnh; góp phần phòng chống việc lạm dụng tình dục trong cuộc sống.

- Để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, gia đình cần quản lý con cái chặt chẽ hơn, đặc biệt là nâng cao trách nhiệm của người mẹ. Trong gia đình, người mẹ vừa là mẹ vừa là bạn với con gái, việc quan tâm, gần gũi, quản lý chặt chẽ của mẹ sẽ giúp tạo ra hàng rào bảo vệ con gái từ các cạm bẫy của tội phạm xâm hại tình dục.

- Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ tiến hành tố tụng trong việc điều tra, truy tố và xét xử. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Tòa án cần thường xuyên trao đổi, thống nhất nhận thức về các quy định của pháp luật cũng như những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về đánh giá chứng cứ, các tình tiết khách quan của vụ án, nhất là những vụ án phức tạp, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

- Tòa án nhân dân tối cao tập trung làm tốt hơn nữa công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân; thường xuyên tổ chức việc trao đổi, rút kinh nghiệm công tác xét xử, đặc biệt là kinh nghiệm xét xử, giải quyết các vụ án về bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổitrong toàn hệ thống Tòa án.

- Bên cạnh việc xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật các tội phạm xâm hại phụ nữ và người dưới 18 tuổi, các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt công tác tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động đối với các vụ án liên quan đến bạo lực đối với phụ nữ để thông qua đó phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật về hình sự; hôn nhân và gia đình; luật bình đẳng giới; pháp luật về chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tới người dân.

* Một số kiến nghị:

- Để khắc phục các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong giải quyết, xét xử các tội phạm bạo lực đối với phụ nữ, người dưới 18 tuổi, cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi quy định về các tội phạm xâm hại tình dục trong Bộ luật hình sự theo hướng sau đây:

+ Đề nghị bổ sung thêm "Tội quấy rối tình dục” vào Chương XIV Bộ luật hình sự năm 2015 “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” nhằm xử lý, ngăn chặn các hành vi quấy rối tình dục.

+ Bổ xung thêm hành vi hiếp dâm với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự.

+ Nghiên cứu, bổ xung thêm quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145, Điểu 146 Bộ luật hình sự)

+ Bổ xung thêm trình tự, thủ tục công khai việc xin lỗi người bị hại quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015./.

Tài liệu tham khảo:

- Báo cáo tổng kết công tác xét xử của TAND tối cao năm 2018, 2019, 2020;

- Giải đáp vướng mắc trong hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc xâm hại phụ nữ, trẻ em (Nhà xuất bản tư pháp);

- Báo cáo số 69/BC-ĐGS ngày 19/5/2020 của Đoàn giám sát Quốc hội khóa XIV về báo cáo kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”;

- Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của TAND tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên;

- Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 và Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

- Công văn số 68/TANDTC ngày 08/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử tội phạm xâm phạm tình dục và bạo hành trẻ em;

- Nghị quyết số 06/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi;

-Bộ luật hình sự năm 2015; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 759
cdscv