Skip to main content

CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY THEO BLHS 2015 – CÁC CẤU THÀNH CƠ BẢN VÀ CẤU THÀNH TĂNG NẶNG.

(06/11/2018 08:05)

TS. Phạm Minh Tuyên

Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh

Đối với nhóm tội phạm về ma túy cũng quy định các cấu thành cơ bản để phân biệt giữa tội này với tội khác, quy định những tình tiết của cấu thành tội phạm tăng nặng để định khung hình phạt. Qua sự mô tả tại các cấu thành cơ bản cũng như các đặc điểm về hành vi khách quan và khách thể của tội phạm thì thấy: Các tội phạm về ma túy được thể hiện ở sáu nhóm hành vi dưới đây. Có những nhóm hành vi phạm tội được quy định trong nhiều điều luật khác nhau, song lại có chung những đặc điểm về hành vi phạm tội, đều hướng tới xâm phạm chung một khách thể được luật hình sự bảo vệ, có những đặc trưng chung nhất về cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng. Do vậy, cấu thành tội phạm đối với các tội phạm về ma túy thể hiện trong các nhóm hành vi như sau :

2.1. Nhóm hành vi thứ nhất : là hành vi trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 247 - BLHS - 2015). Cần chú ý những vấn đề sau :

2.1.1. “Các loại cây khác có chứa chất ma túy” là các loại cây có chứa chất gây nghiện, chất hướng thần theo quy định của Chính phủ, trừ cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa.

2.1.2. “Trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy” quy định tại Điều 247 của BLHS là hành vi gieo trồng, chăm bón hoặc thu hoạch các bộ phận của cây (như lá, hoa, quả, thân cây có chứa chất ma túy).

2.1.3. Người thực hiện hành vi trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Nếu theo quy định tại Điều 192 BLHS 1999, thì “Người thực hiện hành vi trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy” chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi được áp dụng đầy đủ cả ba biện pháp: “Đã được giáo dục 02 lần”, “đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống”“đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”. Xong theo quy định tại cấu thành cơ bản của khoản 1 Điều 247 thì chỉ cần thỏa mãn một trong các tình tiết nêu trên và có bổ xung thêm hai tình tiết định tội nữa là “… Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”; “với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây” cụ thể như sau:

a) “Đã được giáo dục 02 lần” là đã được cơ quan nhà nước, tổ chức, người có trách nhiệm ở địa phương từ hai lần trở lên vận động, thuyết phục, nhắc nhở về việc không được trồng cây có chứa chất ma túy hoặc phổ biến đường lối, chính sách, quy định của pháp luật về cấm trồng cây có chứa chất ma túy. Các biện pháp giáo dục này phải được thể hiện bằng biên bản. Chỉ bị coi là “đã được giáo dục 02 lần” nếu việc giáo dục được thực hiện trước khi bị xử phạt hành chính.

b) “Đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống” là đã được hỗ trợ về tiền vốn, kỹ thuật để sản xuất, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi hoặc đã được hướng dẫn về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lương thực… để thay thế các loại cây có chứa chất ma túy.

c) “Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm ” được hiểu là trước đó đã có hành vi trồng cây có chứa chất ma túy và đã bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, mà lại tiếp tục có hành vi trồng cây có chứa chất ma túy và bị phát hiện (Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành thì có hai hình thức xử phạt vi phạm hành chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền) hoặc đã bị xét xử về hành vi này nhưng chưa được xóa án tích theo quy định của Bộ luật hình sự mà lại tái phạm.

d. “Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây”. Đây là quy định mang tính định lượng cụ thể về số lượng cây trồng giúp cho việc định tội một cách chính xác. Theo chúng tôi, quy định tại khoản 1 Điều 247 BLHS 2015 là hết sức phù hợp và dễ xử lý hơn so với quy định trước đây. Nếu trước đây hành vi “Trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy” chỉ có thể xử lý được bằng hình sự khi đã thỏa mãn cả ba tình tiết “đã được giáo dục 02 lần” “đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống ” và Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”, Thì nay hành vi phạm tội chỉ cần thuộc một trong các trường hợp nêu trên là đủ yếu tố để cấu thành tội. Điều này cũng thể hiện sự nghiêm khắc trong chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với hành vi “Trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy”

2.1.4. Tương tự như vậy, người nào biết người khác gieo trồng, chăm bón hoặc thu hoạch cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy cũng chỉ cần thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm c khoản 1 Điều 247 BLHS 2015 mà vẫn giúp họ thực hiện một trong các hành vi đó thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm về tội này, chứ không cần phải thỏa mãn đầy đủ ba yếu tố định tội như quy định trước đây.

2.1.5. Trường hợp người trồng cây có chứa chất ma túy, đã được áp dụng đầy đủ cả ba biện pháp: “Giáo dục nhiều lần”, “tạo điều kiện ổn định cuộc sống” và “đã bị xử phạt hành chính” nhưng không chịu phá bỏ mà bán lại cho người khác thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy theo quy định tại Điều 247 của BLHS. Người mua lại cây có chứa chất ma túy để tiếp tục chăm sóc thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm c khoản 1 Điều 247 BLHS.

Người nào mua bán trái phép cây có chứa chất ma túy khi cây hoặc các bộ phận của cây có chứa chất ma túy là đối tượng (chất ma túy) quy định tại Điều 251 của BLHS thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 của BLHS.

2.2. Nhóm hành vi thứ hai : bao gồm các Các hành vi sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248 ) ; tàng trữ trái phép chất ma túy  (Điều 249) ; vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250) ; mua bán trái phép chất ma túy  (Điều 251) và chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252).

2.2.1 Đối với tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248)

Bao gồm các hành vi sau đây :

  a. “Sản xuất trái phép chất ma túy” là làm ra chất ma túy (chế biến, điều chế…) bằng thủ công hoặc có áp dụng khoa học công nghệ từ cây có chứa chất ma túy, từ các tiền chất và các hóa chất hoặc làm ra chất ma túy này từ chất ma túy khác mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền hoặc không đúng với nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Trong đó:

Chiết xuất ma túy: Là việc chiết xuất từ quả thuốc phiện để thu nhựa thuốc phiện, tách tinh chất từ lá, hoa, quả của cây cần sa để lấy nhựa cần sa, tinh dầu cần sa, tách tinh chất từ là côca và từ các chất này điều chế thành các chất ma túy.

Điều chế chất ma tuý: Là quá trình áp dụng các công thức hoá học, sử dụng các tiền chất để tạo ra các chất ma túy có hàm lượng cao như điều chế từ thuốc phiện thành moocphin, từ moocphin thành hêrôin hoặc quá trình điều chế từ các tiền chất và các hóa chất thành các chất ma túy tổng hợp như Hêroin, côcain, methamphetamin…

Pha chế: Là hành vi trộn lẫn các chất để tạo thành hỗn hợp ở thể rắn hay lỏng có chứa ma túy. Ví dụ: Sản xuất thành các viên nén, viên con nhộng, đóng thành bánh, đóng chai, lọ, ống thuốc tiêm… có chứa chất ma túy.

Cần lưu ý rằng nhựa thuốc phiện bao gồm: Nhựa thuốc phiện lấy từ cây thuốc phiện, nhựa thuốc phiện đã được cô đặc thành dạng keo, viên thành bi… Đối với dung dịch thuốc phiện để tiêm, chích thì không được coi là chất ma túy ở thể lỏng, mà cần xác định hàm lượng thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng thuốc phiện (tỷ lệ morphin) trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc phiện.

Đối với các hành vi nhằm tạo thuận lợi cho việc sử dụng chất ma túy đã có sẵn như pha chế thuốc phiện thành dung dịch để tiêm chích, nghiền hêrôin từ bánh thành bột để hít… thì không coi là hành vi sản xuất trái phép chất ma túy.

b. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm a khoản 3 là trường hợp người phạm tội có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Thực hiện hành vi sản xuất trái phép chất ma túy từ năm lần trở lên không phân biệt đã bị xét xử hay chưa bị xét xử, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;

b) Người phạm tội lấy hành vi sản xuất trái phép chất ma túy làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội sản xuất trái phép chất ma túy làm nguồn sống chính.  

2.2.2.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249).

Đây là tội được tách ra từ Điều 194 BLHS 1999 và chỉ quy định chung chung chứ không có quy định các tình tiết định tội trong cấu thành cơ bản. Các tình tiết định tội được quy định tại các văn bản dưới luật. Theo khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 thì các tình tiết định tội bao gồm định lượng và định tính được quy định ngay trong cấu thành cơ bản ở khoản 1 cụ thể như sau:

a. Về cấu thành cơ bản quy định những tình tiết định tội như sau:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

Theo quy định trên tại cấu thành cơ bản của Điều 249 thì thấy, quy định tại điểm a khoản 1 là hết sức cơ bản bởi lẽ: Chỉ cần bất cứ người nào mà đã bị “xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, là đã đủ yếu tố để cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và không cần quan tâm tới khối lượng các chất ma túy là bao nhiêu! Còn lại, quy định từ điểm b đến điểm i, đều có quy định về khối lượng các chất ma túy với định lượng cụ thể để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, để bảo đảm việc xét xử được đúng pháp luật, buộc phải giám định đối với các chất ma túy quy định trong cấu thành cơ bản tại khoản 1 Điều 249.

b. Thế nào là “Tàng trữ trái phép chất ma túy”? Đó là việc cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này.

c. Về các khung hình phạt tăng nặng:

Các khung hình phạt tăng nặng quy định tại Điều 249 BLHS 2015, so với quy định tại Điều 194 BLHS 1999 cũng có những thay đổi, bổ xung như sau:

- Tại khoản 2 của điều luật đã bỏ tình tiết “vận chuyển, mua bán qua biên giới” (điểm đ khoản 2 Điều 194 BLHS 1999);

- Tại các điểm c khoản 1, điểm g khoản 2, điểm b khoản 3 và khoản 4, có bổ xung thêm chất ma túy ở thể rắn là Methamphetamine, Amphetamine, MDMA với quy định định lượng về khối lượng như Hêrôin và Côcain. Quy định này trước đây đều quy định chung là “các chất ma túy khác ở thể rắn”.

- Tại các điểm h khoản 2, c khoản 3 và khoản 4 có bổ xung thêm “rễ, thân, cành cây cô ca” theo các khối lượng cụ thể làm tình tiết định khung hình phạt. Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định “lá, hoa, quả cây cần sa”.

- Về hình phạt: Quy định nhẹ hơn so với Điều 194 BLHS 1999 cụ thể:

Khoản 1: Từ 01 đến 05 năm (trước từ 02 đến 07 năm);

Khoản 2: Từ 05 đến 10 năm (trước từ 07 đến 15 năm);

Khoản 3: Từ 10 đến 15 năm (trước từ 15 đến 20 năm);

Khoản 4: Từ 15 đến 20 năm tù chung thân (trước từ 20 năm đến chung thân hoặc tử hình).

2.2.3. Tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” (Điều 250)

a. Về cấu thành cơ bản cũng quy định như Điều 249 BLHS, có những sửa đổi, bổ xung cũng như đã phân tích ở Điều 249 tại cấu thành cơ bản và các khung hình phạt tăng nặng. Còn hình phạt vẫn giữ nguyên như quy định trước tại Điều 194 BLHS 1999.

b. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, được hiểu là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào (có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, tàu bay, tàu thủy…; trên các tuyến đường khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, đường bưu điện…; có thể để trong người như cho vào túi áo, túi quần, nuốt vào trong bụng, để trong hành lý như vali, túi xách v.v…) mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác.

Người giữ hộ, hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy cho người khác, mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của người đó, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.

2.2.4. Tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Điều 251)

Về cấu thành cơ bản không có sự sửa đổi, bổ xung. Về các khung hình phạt tăng nặng có những sửa đổi, bổ xung cũng như đã phân tích ở Điều 249. Còn hình phạt vẫn giữ nguyên như quy định trước tại Điều 194 BLHS 1999.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy được hiểu là một trong các hành vi sau đây:

a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

b) Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

c) Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

d) Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);

đ) Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;

e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

g) Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.

Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.3 Thông tư 17 đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.

2.2.5. Tội “Chiếm đoạt chất ma túy” (Điều 252)

Nội dung sửa đổi, bổ xung tương tự như tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249, chỉ khác nhau ở hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở chỗ:

Hành vi chiếm đoạt chất ma túy, được hiểu là một trong các hành vi trộm cắp, lừa đảo, tham ô, lạm dụng tín nhiệm, cưỡng đoạt, cướp, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt chất ma túy của người khác. Trường hợp người có hành vi chiếm đoạt chất ma túy nhằm mục đích bán lại chất ma túy đó cho người khác, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 251 BLHS và chỉ phải chịu một hình phạt.

2.2.6. Chất gây nghiện, chất hướng thần là chất ma túy; còn thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là để chữa bệnh (chỉ chứa một hàm lượng nhất định chất ma túy) và được quản lý theo quy chế quản lý dược phẩm của Bộ Y tế. Người nào không thuộc đối tượng quy định tại Điều 259 BLHS mà vi phạm trong việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần nhằm mục đích kinh doanh thuốc chữa bệnh hoặc để chữa bệnh thì bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm tương ứng khác không phải là tội phạm về ma túy. Trường hợp sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần trái phép nhằm thỏa mãn nhu cầu về sử dụng trái phép chất ma túy cho mình hoặc cho người khác thì bị xử lý về tội phạm ma túy tương ứng (nếu thỏa mãn điều kiện về khối lượng chất ma túy theo quy định của pháp luật).

2.2.7. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy cần phân biệt:

a) Trước đây khi chưa có Bộ luật hình sự 2015 thì hành vi tàng trữ, vận chuyển, chiếm đoạt các chất ma túy được hướng dẫn tại Thông tư 17 như sau “Người nào đã bị kết án về tội tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt một trong các chất ma túy có số lượng được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.6 tại Thông tư 17, nếu không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 194 BLHS. Nếu là tái phạm nguy hiểm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 194 của BLHS”. Nay Bộ luật hình sự 2015 đã quy định cụ thể các tình tiết định khung tại khoản 1 các Điều 249, 250 và 252 Bộ luật hình sự, theo đó ngoài tình tiết “đã bị kết án… chưa được xóa án” thì đã quy định thêm tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này”. Theo đó, bất cứ ai có hành vi tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy mà có định lượng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm b tới điểm i các Điều 249, 250 và 252 thì bị xét xử theo khoản 1 các điều luật tương ứng, nếu là tái phạm nguy hiểm thì sẽ bị xử theo điểm n khoản 2 Điều 249, điểm p khoản 2 Điều 250 và điểm o khoản 2 Điều 252. Còn nếu có hành vi phạm tội mà định lượng các chất mà túy không đủ khối lượng như quy định tại khoản 1 các điều luật nêu trên thì người phạm tội chỉ bị xử lý hành chính. Nếu người nào, đã bị “xử lý phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, thì không phụ thuộc vào định lượng các chất ma túy khi họ phạm tội có đủ khối lượng quy định tại khoản 1 các điều luật nêu trên hay không thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều luật tương ứng và cũng không cần phải giám định hàm lượng khi có căn cứ cho rằng có sự pha trộn.

b) Người nào bán trái phép chất ma túy cho người khác và còn cho họ sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình để sử dụng trái phép chất ma túy thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 250 BLHS, người đó còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256 BLHS;

c) Người nào biết người khác đi mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà gửi tiền nhờ mua hộ chất ma túy để sử dụng thì người nhờ mua hộ phải chịu trách nhiệm hình sự về số lượng chất ma túy đã nhờ mua hộ. Người đi mua phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma túy đã mua cho bản thân và mua hộ.

d) Người nào biết người khác mua chất ma túy để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện để chở họ cùng chất ma túy và bị bắt giữ nếu số lượng chất ma túy đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy thì người đó là đồng phạm với người mua về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 và 250 BLHS.

* Một số vấn đề cần lưu ý:

- Nếu tội phạm làm giả chất ma túy để buôn bán, trao đổi thì xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự. Nếu giám định mà có hàm lượng chất ma túy thì dù tỷ lệ ma túy thấp vẫn xử lý đối tượng theo điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy.

  Thực tiễn xét xử từ trước đến nay cho thấy tội danh mua bán trái phép chất ma túy được áp dụng đối với các hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy từ đâu mà có, không phụ thuộc vào chất ma túy đó là thật hay giả, có hàm lượng cao hay thấp.

- Trong trường hợp người phạm tội vừa có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nếu sau khi bán ma túy cho người nghiện, họ lên cơn nghiện và mượn luôn địa điểm của người bán để hút, chích ma túy mà dụng cụ là của người nghiện mang theo thì ngoài việc truy tố người bán về tội mua bán trái phép chất ma túy thì người bán ma túy còn phải bị truy tố thêm về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" theo điều 256 BLHS. Nếu hành vi đó lặp đi lặp lại nhiều lần thì hành vi đó sẽ bị truy tố về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"theo Điều 255 BLHS.  

2.3. Nhóm hành vi thứ ba: Bao gồm các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy quy định tại Điều 253 Bộ luật hình sự.

Các hành vi trên được hiểu như sau :

2.3.1. “Tàng trữ tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp tiền chất ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, hoặc cho vào thùng xăng xe…) để dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy.

2.3.2. “Vận chuyển tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy” là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tiền chất từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào (có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, tàu bay, tàu thủy…; trên các tuyến đường khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, đường bưu điện…; có thể để trong người như cho vào túi áo, quần, nuốt vào bụng…; có thể để trong hành lý như vali, túi xách…) để dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy.

2.3.3. “Mua bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:

a) Bán tiền chất cho người khác để người đó sản xuất trái phép chất ma túy;

b) Mua tiền chất nhằm bán cho người khác để người đó sản xuất trái phép chất ma túy;

c) Xin tiền chất nhằm bán trái phép cho người khác để người đó sản xuất trái phép chất ma túy;

d) Dùng tiền chất để trao đổi, thanh toán trái phép cho người khác để người đó sản xuất trái phép chất ma túy;

đ) Dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh toán lấy tiền chất nhằm bán lại cho người khác để người đó sản xuất trái phép chất ma túy;

e) Tàng trữ tiền chất nhằm bán trái phép cho người khác để người đó sản xuất trái phép chất ma túy;

g) Vận chuyển tiền chất nhằm bán trái phép cho người khác để người đó sản xuất trái phép chất ma túy.

2.3.4. “Chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, cưỡng đoạt, cướp, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt… tiền chất của người khác để dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy.

2.3.5. Người tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 253 của BLHS khi các hành vi đó được thực hiện nhằm mục đích để sản xuất trái phép chất ma túy hoặc nhằm bán lại cho người khác để họ sản xuất trái phép chất ma túy. Trường hợp không chứng minh được mục đích nhằm sản xuất trái phép chất ma túy hoặc mục đích nhằm bán lại cho người khác để họ sản xuất trái phép chất ma túy thì không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 253 của BLHS mà tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác theo quy định của BLHS.

So sánh quy định giữa Điều 195 BLHS 1999 với Điều 253 BLHS 2015, chúng ta thấy có sự khác biệt như sau.

Thứ nhất: Tại Điều 195 BLHS 1999, trong cấu thành cơ bản chỉ quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dung vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm”

Như vậy, quy định tại khoản 1 Điều 195 BLHS 1999 chỉ quy định mang tính chung nhất, chứ không quy định mang tính cụ thể. Còn cụ thể khối lượng của tiền chất là bao nhiêu thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì lại được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17 là “Trong trường hợp tiền chất có trọng lượng dưới 50 gam (đối với tiền chất ở thể rắn) hoặc dưới 75 mililít (đối với tiền chất ở thể lỏng) thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS để không truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính”.

Để áp dụng thống nhất và dễ hiểu tại khoản 1 Điều 253 BLHS 2015 đã quy định cụ thể như sau:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dung vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a/ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b/ Tiền chất có khối lượng từ 50 gam đến dưới 200 gam đối với thể rắn, từ 75 mililít đến dưới 300 mililít.

Như vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 253 BLHS 2015, thì tại cấu thành cơ bản đã bổ xung thêm tình tiết định tội quy định tại điểm a. Nếu người nào có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất có khối lượng ít hơn quy định tại điểm b của Điều luật mà đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 253.

Thứ hai: Tại các khung hình phạt tăng nặng từ khoản 2, 3, 4 về hình phạt thì như nhau nhưng các tình tiết định khung lại có sự khác biệt như:

- Trong tất cả các khung hình phạt tăng nặng thì khối lượng tiền chất để làm tình tiết định khung của Điều 195 BLHS 1999 không quy định tiền chất ở thể lỏng mà chỉ quy định tiền chất ở thể rắn. Để quy định đầy đủ hơn, Điều 253 BLHS 2015 đã quy định cả tiền chất ở thể lỏng. Theo đó, nếu tiền chất ở thể lỏng từ 300 mililít đến dưới 750 mililít thì xét xử theo khoản 2 Điều 253, nếu từ 750 mililít đến dưới 1.850 mililít thì xét xử theo khoản 3 và từ 1.850 mililít trở lên thì xét xử theo khoản 4 Điều 253 BLHS 2015.

- Tại khoản 2 của Điều 253 cũng bổ xung thêm tình tiết định khung là “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội”.

- Thực tiễn thời gian qua, việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, không chỉ là các tiền chất ở thể rắn mà còn có tiền chất ở thể lỏng nên việc quy định bổ xung tại Điều 253 BLHS 2015 về tiền chất ở thể lỏng trong các khung hình phạt là hết sức cần thiết.

Vậy trong trường hợp, người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy ở cả thể rắn và thể lỏng thì xử lý thế nào? Quy đổi ra làm sao? Nếu theo quy định tại Điều 194 BLHS 1999 thì không xử lý được vì điều luật không đề cập đến tiền chất ở thể lỏng mà chỉ đề cập đến tiền chất ở thể rắn. Đây chính là lỗ hổng của pháp luật để người phạm tội lách luật. Chính vì vậy Điều 253 BLHS 2015 đã bổ xung khoản 5 quy định là:

“Trường hợp phạm tội có cả tiền chất ở thể rắn và tiền chất ở thể lỏng thì quy đổi làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, với tỷ lệ 01 gam tiền chất ở thể rắn tương đương với 1,5 mililít tiền chất ở thể lỏng. Sau khi quy đổi, số lượng tiền chất thuộc điều khoản nào thì người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều khoản đó”.

Ví dụ: Một người mua bán 200 gam tiền chất ở thể rắn và 300 mililít tiền chất ở thể lỏng, theo quy định tại khoản 5 Điều 253 thì chúng ta có thể quy đổi thành một loại tiền chất ở thể lỏng hoặc thể rắn để đối chiếu theo định lượng quy định tại các khhung hình phạt để xử lý. Trong trường hợp trên, nếu chúng ta quy đổi sang tiền chất ở thể rắn thì theo tỷ lệ 01 gam tiền chất ở thể rắn tương đương với 1,5 mililít tiền chất ở thể lỏng thì 300 mililít tiền chất thể lỏng sẽ bằng 200 gam tiền chất ở thể rắn. Như vậy tổng khối lượng sẽ là 200 gam + 200 gam = 400 gam, chúng ta sẽ áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 253 để xét xử đối với họ.

Theo chúng tôi, quy định như trên là hết sức cần thiết, khoa học và rõ ràng tạo điều kiện áp dụng pháp luật được thống nhất trong việc điều tra, truy tố, xét xử đối với các tội phạm về ma túy.

* Một số vấn đề cần lưu ý:

Tiền chất là những chất có trong tự nhiên hoặc tổng hợp, nó được dùng rộng rãi trong y học, nghiên cứu khoa học, trong công nghiệp… Vì vậy, những hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt các chất này chỉ phạm tội khi nhằm mục đích để sản xuất trái phép chất ma túy. Nếu không chứng minh được mục đích nhằm sản xuất trái phép chất ma túy thì không phạm tội hoặc phạm tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự.

2.4. Nhóm hành vi thứ tư: Bao gồm các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy Điều 254 BLHS. So sánh với quy định tại Điều 196 BLHS 1999 thì quy định tại Điều 254 BLHS 2015 có những sửa đổi, bổ sung như sau :

Thứ nhất: Tại khoản 1 Điều 196 BLHS 1999 cũng chỉ quy định chung chung chứ không quy định cụ thể còn số lượng các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy thì được hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 5.5 mục 5 phần II của Thông tư 17 là:

Đối với trường hợp sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán từ năm bộ dụng cụ, phương tiện (có thể cùng loại, có thể khác loại) trở xuống thì áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS để không truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng phải bị xử lý hành chính”

Còn khoản 1 Điều 254 BLHS 2015 đã quy định cụ thể các tình tiết định tội tại cấu thành cơ bản là:

“1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Có số lượng từ 06 đơn vị đến 19 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại”.

Tương tự như Điều 253, thì tại khoản 1 Điều 254 BLHS 2015 trong cấu thành cơ bản đã bổ xung thêm tình tiết định tội quy định tại điểm a. Nếu người nào có hành vi sản xuất ,tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy có số lượng ít hơn quy định tại điểm b của Điều luật mà đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 254.

Thứ hai: Tại khoản 2 của Điều luật đã bổ xung thêm tình tiết định khung quy định tại điểm g là “sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội” và thay thế tình tiết “Vật phạm pháp có số lượng lớn” bằng tình tiết định lượng cụ thể là “vận chuyển với số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên”. Còn mức hình phạt thì giữ nguyên như Điều 196 BLHS 1999.

Theo hướng dẫn tại Thông tư 17 khi xét xử các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy cần hiểu như sau:

2.4.1. “Sản xuất các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” là làm ra các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 (có thể bằng phương pháp thủ công hoặc áp dụng khoa học kỹ thuật) để dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy.

2.4.2. “Tàng trữ các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” là hành vi cất giữ các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 ở bất kỳ địa điểm nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali hoặc cho vào thùng xăng xe…) để dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy.

2.4.3. “Vận chuyển các phương tiện dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” là hành vi dịch chuyển các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào (có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, tàu bay, tàu thủy…; trên các tuyến đường khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, đường bưu điện…; có thể để trong người như cho vào túi áo, quần…; có thể để trong hành lý như vali, túi xách…) để dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sử dụng trái phép chất ma túy.

2.4.4. “Mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:

a) Bán các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 cho người khác để người đó dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

b) Mua các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 nhằm bán cho người khác để người đó dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

c) Xin các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 nhằm bán trái phép cho người khác để người đó dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

d) Dùng các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 để trao đổi, thanh toán trái phép cho người khác để người đó dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

đ) Dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh toán lấy các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 nhằm bán lại trái phép cho người khác để người đó dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

e) Tàng trữ các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 nhằm bán trái phép cho người khác để người đó dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

g) Vận chuyển các phương tiện, dụng cụ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I Thông tư 17 nhằm bán trái phép cho người khác để người đó dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy hoặc sử dụng trái phép chất ma túy.

2.4.5. Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:

a) Chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán các phương tiện, dụng cụ là nhằm để dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

b) Người lần đầu sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy và chỉ dùng các phương tiện, dụng cụ này để cho bản thân họ sử dụng trái phép chất ma túy, thì chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử lý hành chính. Trường hợp đã bị xử lý hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

2.5. Nhóm hành vi thứ năm: Bao gồm các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255); chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256); cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy Điều 257, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258) Bộ luật hình sự.

2.5.1. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255).

So sánh quy định tại Điều 255 BLHS 2015 với Điều 197 BLHS 1999 thì các quy định hầu như không có sự sửa đổi, bổ xung gì khác biệt, chỉ duy nhất có sự thay đổi mang tính cụ thể hơn. Nếu Điều 197 BLHS 1999 quy định tại điểm a là “phạm tội nhiều lần” còn điểm b là “đối với nhiều người” thì Điều 255 BLHS 2015 quy định cụ thể tại điểm a là “phạm tội 02 lần trở lên” và điểm b là “đối với 02 người trở lên”. Đặc biệt là sửa đổi ở phần c theo chúng tôi là hết sức cụ thể và chính xác. Tại điểm c khoản 2 Điều 197 BLHS 1999 quy định “đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên”. Quy định như vậy, rõ ràng là không có giới hạn về tuổi vì từ 13 tuổi trở lên thì có thể tới 100 tuổi và không phải là quy định trong trường hợp đối với người chưa thành niên, quy định như vậy cũng không thể hiện cấu trúc chặt chẽ của pháp luật mà đã đánh đồng người chưa thành niên với người đã thành niên. Theo chúng tôi, việc tổ chức cho người chưa thành niên sử dụng trái phép chất ma túy là hết sức nguy hiểm, vì đối tượng người chưa thành niên là đối tượng cần có sự quan tâm của xã hội và gia đình. Việc tổ chức cho những người này sử dụng trái phép chất ma túy, bị coi là tình tiết định khung tăng tặng là hết sức cần thiết và thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Song việc quy định cũng đòi hỏi cần phải có sự minh bạch, rõ ràng dễ hiểu. Chính vì vậy, điểm c khoản 2 Điều 255 BLHS 2015 đã quy định cụ thể là “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”.

Ngoài ra về hình phạt và các quy định khác, không có sự thay đổi nào so với quy định tại Điều 197 BLHS 1999. Nghiên cứu các quy định về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cũng như hướng dẫn tại thông tư 17 thì các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là những hành vi như sau:

a) Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác;

b) Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy.

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy; chuẩn bị chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất…) nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; chuẩn bị địa điểm (thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm không thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác); chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ…) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ.

Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:

a) Người nghiện ma túy có chất ma túy (không phân biệt nguồn gốc ma túy do đâu mà có) cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy;

Về vấn đề này, mặc dù là hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 6.2 mục 6 phần II Thông tư 17, song chúng tôi vẫn không đồng tình và cho rằng hướng dẫn trên là không phù hợp, nhất là trong giai đoạn hiện nay các tội phạm về ma túy vẫn đang ngày càng có chiều hướng gia tăng nên cần phải sửa đổi lại hướng dẫn trên bởi lẽ:

Theo chúng tôi năm 2009, chúng ta đã sửa đổi Bộ luật hình sự theo hướng không coi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm cũng đã thể hiện sự nhân đạo đối với những người nghiện hút ma túy, mặc dù chúng ta đều biết người nghiện ma túy cũng là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự trị an. Xong như hướng dẫn tại Thông tư 17 thì vô hình dung những người nghiện ma túy ở một góc độ nào đó lại được “miễn trừ” về pháp luật điều đó là không công bằng. Trong khi hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đã được quy định trong BLHS là tội phạm thì tất cả những hành vi liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, những người nghiện hút ma túy tụ tập nhau lại để sử dụng ma túy cũng không thể được miễn trừ như hướng dẫn tại Thông tư 17 được mà cần phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Có như vậy, mới bảo đảm nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự cũng như giữ gìn trật tự trị an, hạn chế các tội phạm xã hội khác phát sinh từ chính những người nghiện, thực tế hiện nay tình trạng sử dụng ma túy tổng hợp gây ảo giác đang phổ biến và lan truyền rất nhanh, rất nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng cũng xuất phát từ nguyên nhân sau khi sử dụng ma túy tổng hợp người nghiện xuất hiện ảo giác đã không làm chủ được bản thân dẫn đến phạm tội. Chúng ta thử hình dung một nhóm người nghiện tụ tập nhau cùng sử dụng ma túy rồi cùng nhau phạm tội thì hậu quả chúng gây ra cho xã hội sẽ nghiêm trọng đến đâu.

b) Người nào thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà còn thực hiện một hay nhiều hành vi phạm tội khác về ma túy quy định tại các điều luật tương ứng của BLHS, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 255 của BLHS, tùy từng trường hợp còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác đã thực hiện quy định tại điều luật tương ứng của BLHS.

Về một số tình tiết là yếu tố định khung quy định tại Điều 255 của BLHS.

a) “Đối với người đang cai nghiện” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 255 của BLHS là trường hợp phạm tội đối với người mà người đó đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận họ nghiện ma túy và đang được cai nghiện tại trung tâm cai nghiện, tại gia đình hoặc tại cộng đồng dân cư.

b) “Gây bệnh nguy hiểm cho người khác” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 255 của BLHS là trường hợp người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (có thể biết hoặc không biết) đã gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người sử dụng chất ma túy như HIV/AIDS, viêm gan B, lao…

Trường hợp người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy biết bản thân họ hoặc người khác đã nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người sử dụng chất ma túy thì cùng với việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 255 của BLHS, người này còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 117 của BLHS hoặc tội cố ý truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 118 của BLHS.

c) “Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 255 của BLHS là gây bệnh nguy hiểm cho từ hai người trở lên.

d) “Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 255 của BLHS là trường hợp gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên mà tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%.

đ) “Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ thương tật 61% trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 255 của BLHS là trường hợp gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên mà tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên.

Cần lưu ý là người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có thể là người nghiện hoặc không phải là người nghiện ma túy. Vì vậy khi truy cứu trách nhiệm hình sự cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cần phải xác định rõ có đúng là bản chất của việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý hay chỉ là một số người nghiện tụ tập nhau, rồi cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, để việc sử lý được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật tránh oan sai.

2.5.2. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256).

So với quy định tại Điều 198 BLHS 1999, thì quy định tại Điều 256 BLHS 2015 không có sửa đổi, bổ xung nhiều mà chỉ sửa đổi làm rõ thêm ở một số tình tiết định khung như “phạm tội 02 lần trở lên” thay cho “phạm tội nhiều lần”; “đối với 02 người trở lên” thay cho “đối với nhiều người”; “đối với người dưới 16 tuổi” thay cho “đối với trẻ em”. Còn lại về hình phạt vẫn giữ nguyên và bao gồm các hành vi sau:

a. “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý biết người khác là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cho họ mượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy.

b. “Có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy.

Khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:

Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy, mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 của BLHS.

2.5.3. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257)

So với Điều 200 BLHS 1999 thì cấu thành cơ bản của Điều 257 BLHS 2015 đã quy định cụ thể hơn tại khoản 1 Điều 257. Nếu Điều 200 BLHS 1999, chỉ quy định “người nào cưỡng bức người khác…” mà không chỉ rõ cưỡng bức như thế nào, hành động ra làm sao? Thì nay khoản 1 Điều 257 đã quy định cụ thể như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Quy định như trên đã mô tả rõ hành vi phạm tội cưỡng bức phải là dùng vũ lưc, đe dọa dùng vũ lưc hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp về mặt tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy, giúp cho các cơ quan pháp luật áp dụng chính xác và thống nhất gtrong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Bên cạnh đó các tình tiết định khung hình phạt cũng được quy định cụ thể hơn, dễ hiểu hơn như đã phân tích ở các Điều 255, 256 ở trên. Còn khung hình phạt được giữ nguyên như Điều 200 BLHS 1999.

Chúng ta chỉ cần lưu ý một số tình tiết định khung hình phạt theo hướng dẫn tại tiểu mục 9.3 mục 9 phần II Thông tư 17 như sau:

a. “Vì động cơ đê hèn” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 257 của BLHS là vì động cơ trả thù hoặc vì các động cơ tư lợi, thấp hèn khác;

b. “Gây bệnh nguy hiểm cho người khác” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 257 của BLHS là trường hợp người phạm tội (có thể biết hoặc không biết) đã gây ra cho người bị cưỡng bức, lôi kéo sử dụng trái phép chất ma túy một số bệnh nguy hiểm như HIV/AIDS, viêm gan B, lao…

Trường hợp người cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy biết bản thân họ hoặc người khác đã nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người sử dụng chất ma túy thì cùng với việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 257 của BLHS, người này còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lây truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 148 hoặc tội cố ý truyền HIV cho người khác theo quy định tại Điều 149 của BLHS.

2.5.4. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258)

Đây là tội được tách ra từ Điều 200 BLHS 1999, quy định tại cấu thành cơ bản được hiểu như sau:

“Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn của người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy.

Về cơ bản, các quy định về tình tiết định khung của tội này cũng tương tự như quy định tại Điều 257 tội “Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt thì mức tối đa bằng với Điều 257, mức tối thiểu thì thấp hơn.

2.6. Nhóm hành vi thứ sáu: Các hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện,thuốc hướng thần (Điều 259).

So với Điều 201 BLHS 1999, thì tên gọi của Điều 259 BLHS 2015 cũng có sự thay đổi cơ bản. Tên gọi của điều luật, đã chỉ rõ đối tượng tác động của tội này không chỉ là thuốc gây nghiện, chất ma túy khác mà còn bao gồm cả tiền chất và thuốc hướng thần theo đó cấu thành cơ bản cũng được quy định cụ thể hơn như:

1. Người nào có trách nhiệm trong việc sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tồn trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, kê đơn, bán thuốc, giám định, nghiên cứu chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần mà thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong các tội phạm về ma túy, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (Trước là từ 05 đến 10 triệu) hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh các chất có chứa chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và tiền chất;

b) Vi phạm các quy định về nghiên cứu, giám định, sản xuất, bảo quản chất ma túy, tiền chất;

c) Vi phạm các quy định về giao nhận, tàng trữ, vận chuyển chất ma túy, tiền chất;

d) Vi phạm các quy định về phân phối, mua bán, sử dụng, trao đổi chất ma túy, tiền chất;

đ) Vi phạm các quy định về quản lý, kiểm soát, lưu giữ chất ma túy, tiền chất tại các khu vực cửa khẩu, biên giới, trên biển;

e) Chuyển chất ma túy, chất hướng thần hoặc chất ma túy khác cho người không được phép cất giữ, sử dụng”.

Ví dụ, bán thuốc gây nghiện cho người khác mà không có đơn của thầy thuốc có thẩm quyền.. hoặc thiếu trách nhiệm trong các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, vận chuyển, bảo quản, phân phối, cấp phát, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác, để xảy ra mất mát, hư hỏng, sai số lượng, chất lượng, chủng loại…).

III. Một số vướng mắc khi xét xử các tội phạm về ma túy:

Có thể khẳng định, những quy định sửa đổi, bổ sung một số điều trong Chương XX “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự 2015 so với quy định tại Chương XVIII của Bộ luật hình sự 1999, đã thể hiện sự minh bạch, rõ ràng và dễ hiểu hơn. Song qua nghiên cứu, chúng tôi thấy cũng còn những vướng mắc nếu không có những hướng dẫn kịp thời, sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các Cơ quan tố tụng trên toàn quốc cụ thể như sau:

Thứ nhất: Những vướng mắc từ chính những quy định của các điều luật:

Trước đây Điều 194 BLHS 1999, quy định ghép bốn tội trong một điều luật. Do vậy, theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17 ngày 24/12/2007 thì “Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 194 (hoặc Điều 195 hoặc Điều 196) của BLHS mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia), thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với tất cả các hành vi đã được thực hiện theo điều luật tương ứng và chỉ phải chịu một hình phạt”.

  Ví dụ: Một người mua ma túy từ Sơn La rồi vận chuyển về Hà Nội tàng trữ, sau đó mang ra bán lẻ thì bị bắt thì sẽ xử bằng một tội danh đầy đủ là “mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy” và chỉ áp dụng bằng một hình phạt.

  Bộ luật hình sự 2015 đã tách bốn hành vi trước đây quy định tại Điều 194 thành bốn tội danh độc lập quy định từ Điều 249 đến 252. Nếu xảy ra trường hợp như ví dụ trên thì nay sẽ xử lý thế nào? Theo chúng tôi, không thể xử theo một tội danh đầy đủ như hướng dẫn tại Thông tư 17 được mà phải xử theo từng tội danh độc lập.

  Ví dụ: Một người bị bắt quả tang đang bán trái phép chất ma túy thì bị bắt, tiến hành khám xét nhà người đó tiếp tục thu được một lượng ma túy khác. Trong trường hợp này phải xử người đó hai tội độc lập là “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 và “mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 BLHS, sau đó áp dụng Điều 55 tổng hợp hình phạt buộc họ phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội. Chúng tôi cho rằng, cần phải xử theo hai tội độc lập mới thể hiện sự nghiêm khắc và phù hợp với nhu cầu đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, đây là vấn đề sẽ gây bất lợi cho người phạm tội và cũng sẽ có nhiều quan điểm cho rằng cần nghiên cứu về mặt chủ quan của tội phạm để xác định việc tàng trữ trái phép chất ma túy thực chất là điều kiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi mua bán trái phép chất ma túy để hút vào tội mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao cũng cần kết hợp với Bộ Công an, Viên kiểm sát nhân dân tối cao có hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng pháp luật được thống nhất trong toàn quốc.

Quy định tại Điều 254 BLHS 2015, mặc dù đã có sự sửa đổi, bổ sung cụ thể hơn so với Điều 196 BLHS 1999. Song qua nghiên cứu, chúng tôi thấy vẫn còn có những vấn đề chưa phù hợp và còn bỏ lọt hành vi phạm tội, điều đó thể hiện như sau:

- Điều 254 quy định tội “sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy ”. Nhưng tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 lại quy định “Vận chuyển với số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên”. Quy định như vậy là có sự mâu thuẫn giữa tên gọi của điều luật với quy định tại điểm g khoản 2 và mâu thuẫn ngay cả với quy định tại khoản 1 bởi lẽ: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 254 thì người nào có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán số lượng từ 06 đến 19 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 254.

Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 254 lại chỉ đề cập đến hành vi “vận chuyển với số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên”, chứ không đề cập đến hành vi sản xuất, tàng trữ hoặc mua bán! Vậy người nào đó phạm tội sản xuất, tàng trữ hoặc mua bán với số lượng từ 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên nhằm dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy thì có bị coi là tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2 được không? Nếu đối chiếu theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 254 thì không xử lý được vì điều luật quy định rõ là “vận chuyển’’ chứ không quy định là “sản xuất, tàng trữ hoặc mua bán”. Đây chính là bất cập từ quy định của điều luật, sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất. Rất cần có sự hướng dẫn của các Cơ quan Trung ương để áp dụng thống nhất trong toàn quốc.

Thứ hai: Vướng mắc từ vấn đề giám định hàm lượng chất ma túy:

Theo quy định của pháp luật, trong mọi trường hợp khi thu giữ được các chất nghi là ma tuý hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma tuý, tiền chất, nhưng phần lớn các vụ án về ma túy không được giám định hàm lượng moocphin vì chỉ có Viện khoa học hình sự - Bộ Công an - mới làm được việc này. Chính vì vậy mà trong các kết luận giám định của cơ quan giám định ở địa phương việc xác định định lượng ma túy nêu chưa rõ ràng, thông thường chỉ kết luận: “Mẫu vật gửi giám định có chế phẩm heroin…”, trong khi đó chưa có sự hướng dẫn thống nhất về cách hiểu thuật ngữ “chế phẩm Heroin” hoặc “Heroin” trong giám định tư pháp. Trong trường hợp kết quả giám định ghi là chế phẩm Hêrôin thì trọng lượng chế phẩm Hêrôin có bằng trọng lượng Hêrôin không? Nếu là chế phẩm Heroin thì phải xác định hàm lượng heroin là bao nhiêu % Heroin, còn lại bao nhiêu % là chất hóa học nào khác? Thực tế cho thấy, nếu hàm lượng Heroin càng cao thì giá trị càng lớn và các đối tượng phạm tội về ma túy càng có điều kiện để pha trộn thêm các chất khác để bán cho những người nghiện nhằm thu lợi nhuận cao và cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng ma túy.

Việc giám định hàm lượng chất ma túy đối với ma túy tổng hợp ở thể rắn, thể lỏng, các chất ma túy mới như “ma túy đá”, “nước biển” hay giám định hàm lượng chất ma túy chứa trong thuốc tân dược (như tranxene, valium…), thuốc gây nghiện tại nhiều địa phương chưa có sự thống nhất và phải chờ kết quả phân tích, giám định của cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, việc giám định hàm lượng chất ma túy còn gặp khó khăn do chưa có đủ trang thiết bị kỹ thuật để giám định dẫn đến việc khởi tố, truy tố và xét xử một số vụ án về ma túy chưa đảm bảo tính chính xác, khách quan, quá trình điều tra các vụ án ma túy bị kéo dài.

Mặt khác, đối với dung dịch có chứa thuốc phiện, xái thuốc phiện thì việc xác định công thức quy đổi ra trọng lượng thuốc phiện ban đầu rất khó bởi không rõ loại thuốc phiện đó trong thành phần của nó chứa bao nhiêu % moocphin. Chính vì vậy, một số cơ quan tiến hành tố tụng đã không bóc tách hàm lượng chất ma túy trong các loại thuốc độc gây nghiện hay thuốc hướng tâm thần mà quy đồng trọng lượng của các viên thuốc lắc, thuốc chứa chất độc nghiện, thuốc hướng tâm thần thành trọng lượng chất ma túy làm căn cứ để xác định khung hình phạt, dẫn đến việc đánh giá tính chất, mức độ phạm tội trong các vụ án khác nhau còn chưa chính xác. Nếu trong cùng 1 vụ án có từ 2 chất ma túy trở lên thì việc quy về tổng trọng lượng 1 chất để áp dụng khung hình phạt quy định tại các Điều 248, 249, 250, 251, 252 Bộ luật hình sự càng khó khăn.

Về vấn đề giám định hàm lượng các chất ma túy, chúng tôi có quan điểm như sau:

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 (sau đây gọi tắt là Thông tư số 17), đã quy định rất rõ về vấn đề giám định hàm lượng các chất ma túy để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Song không hiểu vì lý do gì, mà các Cơ quan tố tụng từ Trung ương tới địa phương đều “bỏ quên” hướng dẫn này. Sau khi Tòa án nhân dân tối cao ban hành công văn số 234/TANDTC-HS ngày 17/9/2014 (sau đây gọi tắt là Công văn 234) về việc yêu cầu thực hiện đúng hướng dẫn tại đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của Công văn. Song thực tế thì các Cơ quan tố tụng vẫn giám định, Tòa án đã căn cứ vào khối lượng thực sau khi giám định để xét xử. Tuy nhiên, sau đó các Cơ quan tố tụng Trung ương đã họp và ban hành Thông tư số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/12/2015 (sau đây gọi tắt là Thông tư số 08), sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17. Qua nghiên cứu Thông tư số 08, chúng tôi thấy hầu như trách nhiệm lại thuộc về Tòa án điều đó thể hiện như sau:

Thứ nhất: Thông tư liên tịch số 08 sửa đổi, bổ sung tiết 1.4 mục 1 Phần I như sau:

“1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:

a. Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;

b. Chất ma túy, tiến chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;

c. Xái thuốc phiện;

d. Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật…”

Theo chúng tôi, việc hướng dẫn như trên thực chất chỉ tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra và truy tố còn lại là gây khó khăn cho Tòa án khi xét xử và bộc lộ những vướng mắc như sau:

1. Trong các trường hợp bắt buộc phải giám định hàm lượng như đã nêu thì thực tế rất ít vụ án về ma túy khi chất ma túy bị thu giữ ở thể rắn mà lại được pha loãng ví dụ như Hêroin các đối tượng tàng trữ khi bị bắt thì các đối tượng này đã pha loãng để chích vào cơ thể, nếu khi giám định ra hàm lượng ma túy là bao nhiêu phần trăm thì tính quy đổi thành Hêroin nguyên chất sẽ quy đổi như thế nào? Hiện cũng chưa có hướng dẫn, trong khi mà Cơ quan điều tra thông thường chỉ giám định hàm lượng còn lại không quy đổi, chẳng lẽ chúng ta xét xử cả nước lã hoặc nước cất? Tương tự như vậy đối với ma túy ở thể lỏng được các đối tượng pha loãng thì quy đổi ra làm sao? Chưa nói đến hiện nay, xái thuốc phiện hầu như các đối tượng phạm tội về ma túy không bao giờ mua bán, cùng lắm chỉ là những đối tượng nghiện hút không có tiền buộc phải tàng trữ để sử dụng. Như vậy, việc quy định các trường hợp phải bắt buộc giám định như hướng dẫn tại Thông tư 08 thì hầu như Cơ quan điều tra rất ít khi phải giám định hàm lượng.

Một vần đề đặt ra nữa là: Tại sao chỉ “Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; Xái thuốc phiện” Thì phải giám định còn các chất ma túy khác có pha các chất khác lại không bắt buộc phải giám định như vậy có bảo đảm công bằng không?

2. Thông tư 08 hướng dẫn “…Nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm cho việc xét xử đúng pháp luật…”. Hướng dẫn như vậy, theo chúng tôi sẽ dẫn đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật không thống nhất, dẫn đến việc Tòa án cấp trên có thể hủy án của Tòa án cấp dưới bất cứ lúc nào bởi lẽ: Về nguyên tắc xét xử thì đương nhiên phải bảo đảm nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vậy hiểu thể nào là “có căn cứ và xét thấy cần thiết…”? Hướng dẫn như vậy liệu có phải là hướng dẫn mang tính tùy nghi, có thể cấp sơ thẩm bảo không cần thiết, xong cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm lại bảo là cần thiết thì sẽ hủy bản án. Chúng tôi nghĩ, đối với các vụ án về ma túy thì khi thu giữ được các chất nghi là ma túy thì lúc nào cũng cần thiết phải giám định hàm lượng chất ma túy và chỉ có vậy thì mới xét xử đúng pháp luật. Chúng ta không thể tuyên một bản án tử hình đối với một người khi họ mua bán ma túy mà lại chỉ có ba trăm gam là ma túy còn lại bảy trăm gam là bột sắn hoặc bột mỳ được! Thực tiễn cho thấy, rất nhiều trường hợp tàng trữ trái phép chất ma túy là Hêroin sau khi giám định hàm lượng thì lại không đủ trọng lượng trên 0,1g nếu căn cứ vào hướng dẫn tại tiết 3.6 của Thông tư 17 thì họ chỉ bị xử phạt hành chính, nhưng nay lại thuộc trường hợp không bắt buộc Cơ quan Điều tra, Truy tố phải giám định, nếu Tòa án cũng coi là không cần thiết và không đi giám định thì sẽ dẫn đến tình trạng oan sai trong tố tụng hình sự. Nhất là hiện nay, Việt Nam đã tham gia các Công ước quốc tế về quyền con người, cũng như Hiến pháp 2013 cũng đã rất đề cao việc bảo đảm quyền con người trong xã hội. Bởi vậy, trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử luôn phải bảo đảm sự công bằng, khách quan bảo đảm quyền con người một cách đầy đủ nhất. Muốn vậy, thì đối với các vụ án về ma túy việc giám định hàm lượng các chất ma túy là hết sức cần thiết. Điều này cũng đã được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tại Công văn 315 ngày 11/12/2015 thì những trường hợp phạm tội về ma túy có khung hình phạt từ 20 năm đến chung thân hoặc tử hình thì bắt buộc phải giám định hàm lượng các trường hợp khác nếu có căn cứ cho rằng có sự pha trộn thì phải giám định để xét xử đúng pháp luật. Theo chúng tôi, qua thực tế giám định hàm lượng từ trước tới nay chưa bao giờ có kết quả 100% chất ma túy mà 100% là có sự pha trộn, do vậy chắc chắn phải giám định thì mới tránh được oan sai và mới đúng pháp luật được.

Hiện nay để khắc phục vướng mắc này, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã có Công văn đề nghị với Công an tỉnh phối hợp trong việc thực hiện các quyết định trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy của Tòa án. Theo đó, khi có quyết định trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy của Tòa thì Công an sẽ trực tiếp mang mẫu vật đi giám định và Tòa án cử người đi cùng để trả tiền giám định. Kết quả giám định tại Bắc Ninh đã có một số vụ tàng trữ ma túy không đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát đã có Công văn xin trả lại hồ sơ để đình chỉ. Điều đó càng khẳng định việc giám định hàm lượng là hết sức cần thiết.

Để việc giám định hàm lượng chất ma túy được thuận lợi, chúng tôi kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo Cục Tài chính cần bổ xung ngay kinh phí phục vụ cho việc giám định và đề nghị Kho bạc các địa phương cho rút tiền mặt để trả cho giám định vì Tổ chức giám định không đồng ý chuyển khoản mà yêu cầu nộp tiền mặt, trong khi Kho bạc lại không cho rút tiền mặt mà yêu cầu phải chuyển khoản.

Tòa án nhân dân tối cao cũng cần có Công văn đề nghị tổ chức giám định cần phối hợp, đồng ý giám định trong các trường hợp mà Cơ quan điều tra yêu cầu giám định hàm lượng ngoài những trường hợp hướng dẫn tại thông tư 08. Thực chất tại Bắc Ninh, có nhiều vụ án về ma túy, sau khi trao đổi Cơ quan điều tra đã đồng ý trưng cầu giám định hàm lượng nhưng khi ra giám định thì Tổ chức giám định Bộ Công an không giám định vì cho rằng không phải đối tượng bắt buộc giám định theo hướng dẫn tại Thông tư 08 và Công văn 315, họ chỉ giám định khi có quyết định của Tòa án. Đây chính là những khó khăn mà Thông tư số 08 hướng dẫn đã dành cho Tòa án. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể.

Thứ hai: Trong Thông tư số 08 có hướng dẫn “…Trường hợp không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhưng có căn cứ xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận cuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh và điều khoản tương ứng.”

Hướng dẫn trên, theo chúng tôi nhằm khắc phục những vụ án về ma túy mang tính truy xét mà không thu giữ được vật chứng của vụ án là ma túy, nhưng hướng dẫn như vậy cũng chưa mang tính thuyết phục vì căn cứ nào để xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt? Chắc chắn chỉ dựa vào lời khai của họ hoặc lời khai của các đồng phạm. Nhưng tính trọng lượng như thế nào khi mà tất cả các vụ án về ma túy mang tính truy xét, đa phần lời khai chỉ là bao nhiêu bánh Hêroin, căn cứ vào đâu để tính trọng lượng một bánh Hêroin là bao nhiêu gam, vì không có Cơ quan đo lường chất lượng nào quy định về vấn đề này, thực tế xét xử cũng cho thấy trọng lượng các bánh Hêroin thu giữ trong các vụ án về ma túy đã xét xử là không giống nhau có bánh là 350 gam, có bánh lại 300 gam hoặc ít hơn 300 gam… Nếu vậy việc xác định trọng lượng ma túy có chính xác không?

Thứ ba: Về việc tính khối lượng ma túy

Việc tính trọng lượng ma túy trong một số vụ án hiện nay như đã phân tích ở trên, mặc dù đã được giám định hàm lượng, song các cơ quan điều tra và truy tố khi tính khối lượng chất ma túy để xử lý đều căn cứ khối lượng khi thu giữ (gồm tinh chất và tạp chất) thu giữ được để xem xét trách nhiệm hình sự, dẫn đến việc đánh giá tính chất, mức độ phạm tội trong các vụ án không bảo đảm công bằng và khách quan, nhiều trường hợp tạp chất nhiều hơn tinh chất song Viện kiểm sát vẫn truy tố theo khối lượng khi thu giữ và đề nghị các bị cáo phải chịu hình phạt cao nhất, nếu Tòa án căn cứ vào hàm lượng chất ma túy để quy đổi ra khối lượng thực và xử theo khối lượng thực đó thì Viện kiểm sát sẽ kháng nghị. Vấn đề này đề nghị Tòa án nhân dân tối cao cần có sự thống nhất với Viện kiểm sát tối cao trong việc tính khối lượng thực để xét xử hoặc có văn bản chỉ đạo cụ thể việc chỉ căn cứ vào khối lượng thực khi đã có giám định hàm lượng để làm căn cứ xét xử và quyết định hình phạt đối với người phạm tội, để việc áp dụng pháp luật thống nhất trong toàn Hệ thống Tòa án.

Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt chủ yếu căn cứ vào trọng lượng ma túy mà người phạm tội mua bán, tàng trữ, vận chuyển chiếm đoạt nhưng đến nay Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao mới chỉ hướng dẫn đường lối  xử lý đối với khoản 4 Điều 194 BLHS, còn khoản 2 và khoản 3 chưa được hướng dẫn cụ thể nên trong thực tế một số vụ án xét xử còn áp dụng thiếu thống nhất.

Như tại Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BNV ngày 2/1/1998 và Nghị quyết số 01/2001/NQ - HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Song qua thực tiễn áp dụng thì các văn bản này có mâu thuẫn với nhau và không phù hợp với thực tiễn, dẫn đến việc áp dụng và quyết định hình phạt không đảm bảo nguyên tắc công bằng cụ thể như:

Tại Thông tư liên tịch số 01/1998 ngày 2/1/1998 hướng dẫn: (chúng tôi chỉ trích dẫn chất ma tuý là Hêrôin hoặc Cocain và mức định lượng quy định làm căn cứ áp dụng mức hình phạt tù từ mười tám năm trở lên)

- Xử phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm nếu:

... Hêroin hoặc Cocain có trọng lượng từ bảy mươi gam đến dưới một trăm gam;

- Xử phạt tù chung thân nếu:

... Hêroin hoặc cocain có trọng lượng một trăm gam

- Xử phạt tử hình nếu:

... Hêroin hoặc cocain có trọng lượng trên một trăm gam.

Tại Nghị quyết số 01/2001/NQ - HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn:

... Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ, hoặc vừa có tình tiết tăng nặng vừa có tình tiết giảm nhẹ, nhưng đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau thì xử phạt người phạm tội mức án tương ứng với trọng lượng chất ma tuý như sau:

- Xử phạt hai mươi năm tù nếu:

... Hêrôin hoặc cocain có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam...

- Xử phạt tù chung thân nếu:

... Hêrôin hoặc cocain có trọng lượng từ ba trăm gam đến dưới sáu trăm gam...

- Xử phạt tử hình nếu:

...Hêrôin hoặc Cocain có trọng lượng từ sáu trăm gam trở lên.

Việc hướng dẫn như trên đã dẫn đến tình trạng khi quyết định hình phạt sẽ không đảm bảo sự công bằng bởi lẽ khi quyết định hình phạt sẽ dựa vào trọng lượng ma tuý, trọng lượng ma tuý càng nhiều thì mức hình phạt lại càng cao. Song theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01 vừa nêu rất khó cho sự vận dụng vì sẽ có những nhận thức không giống nhau khi áp dụng pháp luật có thể có những nhận thức cho rằng người phạm tội với trọng lượng một trăm gam Hêrôin cũng phải chịu mức hình phạt như người phạm tội về ma túy với trọng lượng Hêrôin là 299 gam và ngược lại nếu như không có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điều 46 BLHS. Nếu muốn xử dưới khung hình phạt quy định, tức là dưới hai mươi năm tù thì ít nhất người phạm tội phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS trở lên, trong thực tế các tội phạm về ma túy thường rất ít các tình tiết giảm nhẹ. Theo chúng tôi việc hướng dẫn như vậy về định lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam là khoảng cách quá xa (199gam). Tại Thông tư liên tịch số 01 ngày 2/1/1998 đã hướng dẫn xử mười tám năm tù tới hai mươi năm tù với trường hợp trọng lượng Hêrôin hoặc Cocain từ bảy mươi gam đến dưới một trăm gam (khoảng cách là ba mươi gam), theo hướng dẫn như vậy có thể hiểu, người nào mua bán, vận chuyển trái phép hoặc sản xuất trái phép chất ma tuý với trọng lượng Hêrôin hoặc Cocain là 70 gam thì phải chịu hình phạt là mười tám năm tù, nếu là 85 gam thì phải chịu hình phạt là mười chín năm tù, 99gam thì phải chịu hình phạt là hai mươi năm tù. Nếu so sánh với hướng dẫn tại Nghị quyết 01 của Hội đồng thẩm phán thì rõ ràng người phạm tội về ma tuý với trọng lượng Hêrôin hoặc Cocain là 99 gam cũng phải chịu hình phạt như người phạm tội về ma tuý với trọng lượng hêrôin hoặc cocain là 299 gam (chênh lệch là 200 gam). Điều đó là bất hợp lý và không công bằng khi quyết định hình phạt.

Một điểm chưa hợp lý nữa là, nếu một người nào đó phạm tội đơn lẻ mua bán hoặc vận chuyển trái phép từ 100 gam Hêrôin hoặc cocain trở lên thì bị xét xử theo khoản 4 Điều 194 BLHS với khung hình phạt thấp nhất là hai mươi năm và cao nhất là tử hình, nhưng thực tế có nhiều vụ ma tuý đã đưa ra xét xử có tính chất đồng phạm có nhiều bị cáo tham gia, cùng buôn bán, vận chuyển số lượng ma tuý rất lớn tới hàng chục kg như vụ Vũ Xuân Trường cùng đồng bọn và vụ Nguyễn Văn Tám hay vụ án Nguyễn Văn Hải (tức Hải Luận) cùng 28 tên đồng bọn mua bán 2.534 bánh Hêrôin tương đương với 886,9 kg hêrôin đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử từ ngày 11/01/2005 và kết thúc vào ngày 24/01/2005 với 17 án tử hình 10 án chung thân và 02 án tù có thời hạn. Hay gần đây nhất vụ án Pùa A Chứ cùng đồng bọn buôn bán trót lọt gần 4000 bánh Hêrôin, mà phần một của vụ án đã được đưa ra xét xử, thì qua khai nhận của các bị cáo là đã buôn bán trót lọt tới 1429 bánh Hêrôin (tương đương 500 kg), 188 kg thuốc phiện, 300 viên Hồng phiến đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử và tuyên án ngày 27/7/2005 với 06 bị cáo bị tuyên mức án tử hình, 08 bị cáo bị tuyên mức án tù chung thân, 07 bị cáo bị tuyên mức án tù có thời hạn, 01 bị cáo được hưởng án treo. Thông qua các vụ án này thì thấy trong những vụ án này có các bị cáo đã phạm tội với trọng lượng Hêrôin tới hàng kg song chỉ phải chịu mức án tù chung thân, hoặc tù có thời hạn như Lê Ngọc Toàn buôn bán 13,88 bánh Hêrôin (4,85kg), bị xử tù chung thân, Vũ Thị Kim Định mua bán 04 bánh Hêrôin (1,4kg), Hoàng Thị Thái mua bán 3,8 bánh Hêrôin (1,3kg) nhưng chỉ bị xử phạt 17 năm tù. Nếu các bị cáo này phạm tội đơn lẻ thì chắc chắn sẽ không thoát khỏi án tử hình. Ví dụ: Như vụ Ngô Thị Thú, Ngô Văn Thanh ở Đông Lâm – Hiệp Hoà - Bắc Giang tham gia buôn bán 01 bánh Hêrôin với trọng lượng 350 gam bị bắt ngày 22/8/1998. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại bán án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 5/2/1999 đã xét xử các bị cáo nói trên về tội “mua bán trái pháp chất ma tuý” và tuyên phạt bị cáo Thú tử hình, bị cáo Thanh tù chung thân. Bản án đã được thi hành. Hay vụ Nguyễn Thị Tư, Lê Ngọc Hải, Đoàn Trắc Thiện ở Lê Lợi – Nhân Thắng-Gia Bình- Bắc Ninh mua bán 113,1387 gam Hêrôin bị bắt ngày 25/6/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đưa ra xét xử ngày 12/12/2002 và tuyên phạt bị cáo Tư 15 năm tù, bị cáo Hải 14 năm tù, bị cáo Thiện 12 năm tù. Vụ vợ chồng Hoàng Văn Cường, Nguyễn Thị Thoa ở tại Ngô Thôn – Xuân Lai – Gia Bình – Bắc Ninh tham gia mua bán 459,0278 gam Hêrôin bị Công an bắt ngày 14/5/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đưa ra xét xử ngày 27/8/2004 với mức hình phạt tù chung thân đối với Hoàng Văn Cường và 20 năm tù đối với Nguyễn Thị Thoa. Điều đáng nói là các vụ án nêu trên các bị cáo đều là những người chưa có tiền án, tiền sự, Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử phúc thẩm và đều y án sơ thẩm. Qua những vụ án nêu trên chúng ta thấy sự không công bằng trong việc quyết định hình phạt tù giữa những vụ án ma túy lớn có nhiều người tham gia so với những vụ án lẻ có ít người tham gia.Trong khi về mặt lý luận chúng ta đều thừa nhận hành vi phạm tội có tổ chức bao giờ cũng nguy hiểm hơn hành vi phạm tội đơn lẻ. Một vấn đề nữa là việc tính trọng lượng ma túy trong một số vụ án cũng chưa thống nhất, có vụ án căn cứ vào hàm lượng (tinh chất) ma túy nhưng có vụ án lại căn cứ trọng lượng thực tế (gồm tinh chất và tạp chất) thu giữ được để xem xét trách nhiệm hình sự, dẫn đến việc đánh giá tính chất, mức độ phạm tội trong các vụ án cũng khác nhau.

Trong vụ án mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý, nếu bị cáo phạm tội trong một vụ án đơn lẻ, với vai trò độc lập có thể phải chịu hình phạt là tử hình hoặc tù chung thân, nhưng cũng với lượng ma tuý như vậy, thậm chí nhiều hơn, nếu bị cáo phạm tội trong một vụ án có tổ chức, có đông bị cáo tham gia và vai trò của bị cáo thấp hơn so với những bị cáo khác thì có thể không bị áp dụng hình phạt trên. Như vậy là cùng một loại hành vi, tính chất, mức độ phạm tội nhưng trách nhiệm hình sự lại khác nhau, trong khi hành vi phạm tội có tổ chức bao giờ cũng nguy hiểm hơn hành vi phạm tội đơn lẻ.

Bộ luật hình sự quy định trọng lượng chất ma túy được xác định bằng đơn vị gram, kilogam. Trong thực tế có vụ án ma túy không thu giữ được tang vật mà chỉ dựa trên lời khai của các đối tượng xác định trọng lượng chất ma túy bằng đơn vị bánh, cây, chỉ, phân rồi từ đó quy ra trọng lượng là gam, kilogam là không chính xác. Bởi lẽ, Heroin không phải là hàng hóa được phép lưu thông, do vậy cũng không có đơn vị đo lường nào để đánh giá một bánh Heroin là bao nhiêu gam để quy đổi, dẫn đến việc quy đổi thành trọng lượng các chất ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với họ là không phù hợp. Thực tế xét xử hiện nay cho thấy, trọng lượng một bánh Heroin nỗi vụ án cũng có sự khác nhau không thống nhất, nên cũng cần xem xét lại vấn đề này. Đặc biệt, Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, để giải quyết những vướng mắc trên chúng tôi rất mong Hội đồng Thẩm phán sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn thay thế cho những hướng dẫn trước đây, để khắc phục những vướng mắc trên và có quan điểm chỉ đạo về sự trùng lặp về khối lượng quy định tại điểm c khoản 3 khối lượng quy định tại điểm h khoản 2 Điều 249; điểm i khoản 2 quy định khối lượng bằng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 250; điểm h khoản 2 quy định khối lượng bằng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 252 BLHS.

Thứ ba. Xác định như thế nào là “người nghiện ma tuý” để loại trừ trách nhiệm hình sự trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

     Tại điểm a Mục 6.2 Thông tư 17 quy định: “Người nghiện ma tuý (không phân biệt nguồn gốc ma tuý do đâu mà có) cho người nghiện ma tuý khác chất ma tuý để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, mà tuỳ từng trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý hoặc tội sử dụng trái phép chất ma tuý”

Như hướng dẫn trên, chúng ta thấy có thể xảy ra trường hợp bỏ lọt tội phạm hoặc kết án oan nếu như trong hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nếu người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tự nhận mình là người nghiện thì họ sẽ không phạm tội! Và như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ coi đó là căn cứ để không khởi tố những hành vi trên. Hướng dẫn như vậy, rất khó để xử lý bằng hình sự đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngược lại, trong trường hợp cơ quan Công an khởi tố và Viện kiểm sát truy tố rồi thì lại lập luận với Tòa án là không có căn cứ để bảo rằng, người có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là người nghiện. Thậm chí còn yêu cầu nêu khái niệm thế nào là người nghiện. Trong trường hợp này, cho dù họ có là người nghiện thì các cơ quan tiến hành tố tụng mặc nhiên tuyên bố họ không phải là người nghiện. Vì hiện tại, cũng không có quy định cơ quan nào có thẩm quyền để xác định một người có phải là người nghiện hay không nghiện! Theo chúng tôi, bất cứ người nào có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thì đều phải xử lý bằng pháp luật hình sự, chứ không cần phân biệt họ có là người nghiện ma túy hay không. Hiện nay về trình tự thủ tục, thẩm quyền để xác định một người có nghiện ma tuý hay không đã được quy định tại Chương III Thông tư liên tịch số 03 ngày 10/02/2012 của Bộ lao động TB và XH - Bộ Y tế - Bộ Công an và Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09/7/2015 tuy nhiên, việc triển khai Thông tư 17 này hiện cũng rất lúng túng, vẫn chưa có quy định, hướng dẫn các cơ sở được xác định người nghiện là như thế nào ? Như hướng dẫn trên, về mặt tài liệu, chứng cứ cần phải có những căn cứ gì để xác định một đối tượng là người nghiện ma tuý để tránh truy tố oan hay bỏ lọt trong các trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Theo chúng tôi, cần bỏ hướng dẫn Tại điểm a Mục 6.2 Thông tư 17 quy định như chúng tôi đã phân tích ở phần trên./.

        

  


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 585
cdscv