Skip to main content

ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP THẨM PHÁN CƠ CHẾ VÀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ VI PHẠM LIÊN QUAN ĐẾN THẨM PHÁN

(22/10/2018 14:43)

TS. Phạm Minh Tuyên

Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh

  Nghị quyết 49 –NQ/TƯ ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định Tòa án là trung tâm của cải cách tư pháp và hoạt động xét xử là trọng tâm. Do vậy, Thẩm phán giữ vị trí quan trọng trong việc xét xử - giai đoạn trung tâm của hoạt động tố tụng, vì vậy bên cạnh số lượng, chất lượng của đội ngũ thẩm phán cũng như cách thức tổ chức, cơ chế vận hành và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán là yếu tố mang tính quyết định đến hiệu quả giải quyết các vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trong bài viết này, tác giả đưa ra một số vấn đề liên quan đến đạo đức nghề nghiệp cũng như cơ chế tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiêm và vấn đề xử lý vi phạm liên quan đến Thẩm phán, nguyên nhân và một số kiến nghị.

1. Cơ chế tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm Thẩm phán ở Việt Nam

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam

  Cách đây 65 năm, Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, đã mở ra kỷ nguyên mới đối với đất nước ta – Kỷ nguyên độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, Cách mạng tháng 8 thành công xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

  Để xây dựng và củng cố bộ máy Nhà nước, ban hành pháp luật bảo vệ thành quả cách mạng, ngày 13/9/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành Sắc lệnh số 33c/SL thiết lập các Tòa án quân sự. Bằng sắc lệnh này, trên toàn lãnh thổ Việt Nam, ở cả ba miền: Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ lúc đó đều thiết lập các Tòa án quân sự với nhiệm vụ “xét xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Việc ra đời của các Tòa án này đã góp phần trấn áp bọn phản cách mạng cấu kết với thực dân Pháp nhằm xâm lược đất nước ta. Đó là mốc son đánh dấu sự ra đời của ngành Tòa án Việt Nam.

  Nhằm nâng cao hiệu lực của Tòa án, Ngày 24/01/1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức và các ngạch Thẩm phán. Ngày 22/5/1950, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành Sắc lệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và tăng cường hiệu lực của Tòa án nhân dân trong bộ máy Nhà nước. Theo sắc lệnh này, thì tổ chức hệ thống Tòa án có Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp, Hội đồng phúc án và Phụ thẩm nhân dân. Bên cạnh sự phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam thì các đạo luật về tổ chức hệ thống Tòa án qua các thời kỳ cũng được ban hành như: Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, Luật tổ chức Tòa án năm 1992, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Đây chính là những mốc lịch sử quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của ngành Tòa án Việt Nam. Và cho đến nay, Ngành Tòa án Việt Nam bao gồm hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức từ trung ương đến cấp huyện, hệ thống Tòa án quân sự, từ Tòa án quân sự trung ương đến các Tòa án khu vực.

1.2. Thực trạng đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam.

  Đi đôi với với việc kiện toàn và phát triển về tổ chức ngành Tòa án Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành Tòa án, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán các cấp. Đảm bảo cho cán bộ, công chức ngành Tòa án, trước hết là các Thẩm phán phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, kiên quyết bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa.

  Tính đến 2017 cả nước có 5.343 Thẩm phán. Trình độ và năng lực của các Thẩm phán hiện nay 100% có trình độ Đại học luật hoặc tương đương. Theo đánh giá hàng năm thì số Thẩm phán hoàn thành nhiệm vụ chiếm trên 90%. Mặc dù số lượng và chất lượng Thẩm phán được nâng lên một bước cơ bản so với trước đây, nhưng so với yêu cầu thực tế thì: thực trạng đội ngũ Thẩm phán hiện nay vẫn còn hạn chế về chất lượng và số lượng. Điều đó thể hiện: theo sự phân bổ của Nhà nước thì số lượng Thẩm phán theo phân bổ là Tòa án nhân dân tối cao là 16 Thẩm phán; Thẩm phán cao cấp tại các Tòa án cấp cao và Tòa án tỉnh là 79 Thẩm phán hiện chưa đủ chỉ tiêu để đảm đương nhiệm vụ xét xử phúc thẩm và các hoạt động khác; số lượng Thẩm phán trung cấp của cả cấp tỉnh và cấp huyện là 1.344 Thẩm phán còn lại là 3.920 Thẩm phán sơ cấp tại các Tòa án cấp huyện. Với số lượng Thẩm phán như hiện nay, thực sự là rất thiếu so với lượng công việc được giao. Ví dụ; như năm 2015 toàn hệ thống Tòa án đã xét xử 399.058 vụ án các loại, bình quân một Thẩm phán phải giải quyết là 74,7 vụ án trong một năm và 6,2 vụ trong một tháng. Khối lượng công việc như vậy là rất quá tải với lao động của Thẩm phán. Đối với Tòa án hai cấp tỉnh Bắc Ninh cũng vậy, năm 2015 đã giải quyết tổng số 3.872 vụ với 54 Thẩm phán binh quân mối Thẩm phán phải xét xử 71.7 vụ một năm và 6 vụ một tháng.

Thực tế có không ít các Thẩm phán khi mới được bổ nhiệm còn bỡ ngỡ, yếu về điều khiển phiên tòa, việc áp dụng, vận dụng pháp luật chưa nhuần nhuyễn. Tình trạng này chỉ được khắc phục từ khi thành lập Học viện Tư pháp, trong đó khoa đào tạo Thẩm phán là đơn vị quản lý hành chính cơ sở của Học viện Tư pháp, có chức năng, nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập và chủ trì tổ chức quá trình đào tạo Thẩm phán theo kế hoạch hàng năm do Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt, các Thẩm phán trước khi được bổ nhiệm đã có thời gian một năm theo học tại Học viện với những chương trình do Khoa đào tạo Thẩm phán xây dựng như: các kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, điều khiển phiên tòa, định tội danh, quyết định hình phạt và kỹ năng viết bản án Hình sự, Dân sự, Kinh doanh thương mại, Hành chính, Lao động … Chính vì vậy, chất lượng đội ngũ Thẩm phán ngày càng được nâng cao khi làm nhiệm vụ xét xử các loại án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân, hạn chế tới mức thấp nhất tỷ lệ án bị sửa, hủy tránh được oan sai.

1.3. Quy trình tuyển dụng, đào tạo, Bổ nhiệm Thẩm phán hiện nay ở Việt Nam.

  Như phần trên chúng tôi đã nêu và phân tích thì sau khi thành Lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 13/9/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành Sắc lệnh số 33c/SL thiết lập các Tòa án quân sự, tiền thân của ngành Tòa án nhân dân hiện nay, Sắc lệnh số 13/SL “về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán” ban hành ngày 24/01/1946. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định tương đối đầy đủ quyền và nghĩa vụ Thẩm phán cũng như việc tuyển bổ ngạch Thẩm phán. Tùy theo từng giai đoạn lịch sử của đất lước thì Luật tổ chức Tòa án nhân dân cũng được sửa đổi bổ sung cho phù hợp đối với hoạt động và tổ chức của hệ Thống Tòa án nói riêng và chế định về Thẩm phán nói riêng. Khi nghiên cứu Luật tổ chức Tòa án nhân dân ở những giai đoạn trước đây có thể thấy trong thời kỳ này việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán chưa có những tiêu chí chặt chẽ, các tiêu chí về chuyên môn chưa được coi trọng, tỷ lệ các Thẩm phán có trình độ Đại học chính quy rất ít, đa phần là trình độ sơ, trung cấp, luận huấn, chuyên tu, tại chức. Thậm chí nhiều địa phương Chánh án tỉnh chưa qua đào tạo chuyên ngành luật mà chuyển từ các ngành khác sang theo điều động của cấp ủy. Chỉ tới khi Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 2/4/2002, thì các tiêu chí của Thẩm phán mới được quy định một cách chặt chẽ, điều đó thể hiện tại Điều 37 và Điều 5 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thân kiên quyết bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán”.  Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, đã có những quy định hết sức cụ thể ngoài những tiêu chí cứng quy định ở phần đầu của Điều 37 Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán Tòa án nhân dân thì Thẩm phán bắt buộc phải những tiêu chí sau:

- Có trình độ cử nhân Luật: được hiểu là phải có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành luật do các trường địa học trong nước có chức ngăng đào tạo đại học về chuyên ngành luật theo quy định. Nếu văn bằng đại học chuyên ngành luật do nước ngoài cấp, thì văn bằng đó phải được công nhận ở Việt Nam.

- Đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử: nghĩa là phải có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ xét xử do cơ quan có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp cấp; nếu là chứng chỉ do các cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam công nhận.

- Có năng lực làm công tác xét x: được hiểu là có khả năng hoàn thành tốt công tác xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án.

- Có sức khỏe hoàn thành nhiệm vụ được giao: được hiểu là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình đó là không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người Thẩm phán.

- Có thời gian công tác pháp luật: được hiểu là thời gian công tác kể từ khi được xếp vào một ngạch công chức bao gồm Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên… Chính những quy định chặt chẽ như vậy, nên đội ngũ Thẩm phán được bổ nhiệm hiện nay đã bảo đảm được đầy đủ về năng lực chuyên môn, nắm vững được nghiệp vụ kỹ năng xét xử các vụ án góp phần vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ của ngành Tòa án mà Đảng và Nhà nước giao phó.

2. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán.

  Mỗi xã hội đều có quan niệm riêng về phạm trù đạo đức. Đạo đức xã hội vừa mang tính xã hội vừa mang tính giai cấp sâu sắc. Chính vì vậy đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán ngoài đặc trưng riêng của mình, cũng chứa đựng những yếu tố chung của đạo đức xã hội. Đặc trưng riêng của đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán là sự gắn liền với hoạt động xét xử của Thẩm phán. Mặt khác đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán còn được hình thành và phát triển thông qua quá trình tự tu dưỡng, tự rèn luyện của bản thân mỗi Thẩm phán.

Theo tôi, khi nói đến đạo đức nghề nghiệp người Thẩm phán ngoài những quy định của hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án, thì mỗi Thẩm phán đương chức cần nhớ tới ý kiến của ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh ghi trong tờ trình gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi có Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/02/1946 là: “Thà không có Thẩm phán còn hơn có người mà vô tài, vô hạnh. Khi lập một hạng người có quyền xét xử người khác, bản bộ thấy rõ trách nhiệm đối với nội trị và cả đối với ngoại giao nữa…”. Như vậy, khi nói đến đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán thì đầu tiên phải nói đến phẩm chất trung thực, phẩm chất tôn trọng lẽ phải, tôn trọng sự thật khách quan, tôn trọng chân lý trong cuộc sống và có cái tâm trong sáng. Người Thẩm phán có trung thực, có tâm trong sáng thì mới có dũng cảm để bảo vệ lẽ phải, có trung thực, trong sáng thì mới không bảo thủ cứng nhắc khi giải quyết công việc được giao. Người Thẩm phán là người nhân danh Nhà nước để quyết định một người có phạm tội hay không phạm tội và ra một bản án để trừng trị kẻ phạm tội bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm cho pháp luật của Nhà nước được nghiêm chỉnh thi hành, muốn vậy người Thẩm phán cũng phải hết sức công bằng, vô tư và khách quan để ra một bản án thấu tình đạt lý. Người Thẩm phán, phải luôn hiểu rõ nghề nghiệp mình đang làm là hết sức cao quý, cần phải trân trọng và mong muốn được làm nghề với tất cả sự tâm huyết với mong muốn đạt được mục đích duy nhất đó là giúp cho mọi người luôn hướng tới cái thiện, vì sự tốt đẹp, vì sự cao quý vươn tới các giá trị Chân – Thiện – Mỹ của nhân loại.

Đạo đức nghề nghiệp của người Thẩm phán chính là sự phấn đấu để cố gắng hạn chế và tiến tới loại bỏ nỗi đau khổ, bất hạnh ra khỏi đời sống của con người thông qua các bản án thấu tình đạt lý mang tính giá trị cao. Đạo đức nghề nghiệp của người Thẩm phán còn thể hiện ở sự vượt qua mọi khó khăn, sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân, khắc phục những mất mát, thiệt thòi trong nghề nghiệp, không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức chuyên môn, tạo được bản lĩnh vững vàng, có lương tâm, hiểu biết sâu sắc về xã hội, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp kiên quyết bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, thì người thẩm phán đó ngoài đạo đức ra còn có thể được coi là người Thẩm phán có văn hóa.

3. Thực tiễn hành nghề của Thẩm phán Việt Nam.

  Đối với người Thẩm phán thì niềm vinh dự và tự hào vô cùng to lớn khi được quyền “nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để tuyên một bản án. Song bên cạnh niềm vinh dự và tự hào đó thì cũng là những thách thức và trách nhiệm của người Thẩm phán bởi lẽ: Lao động của Thẩm phán là lao động đặc thù, hoạt động trên cơ sở các quy định của pháp luật. Đối tượng mà Thẩm phán giải quyết là con người, là quyền lợi ích hợp pháp của họ, phán quyết của Thẩm phán ảnh hưởng đến quyền lợi của mỗi con người cả về chính trị và kinh tế, danh dự và nhân phẩm, đôi khi là cả sinh mạng của con người. Một bản án tử hình đúng pháp luật được thông qua, một mặt sẽ loại ra khỏi cuộc sống một tên tội phạm, mặt khác đó lại là cuộc sống một con người – là nỗi niềm day dứt của người Thẩm phán. Do vậy, để xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để oan người vô tội, không để lọt kẻ có tội, mang lại công bằng cho nhân dân là một áp lực và thách thức không nhỏ.

  Lao động của Thẩm phán phải chịu nhiều áp lực từ phía các phần tử phạm tội, áp lực từ phía xã hội, công luận, sự giám sát của nhân dân, nếu việc làm của Thẩm phán tuân thủ pháp luật, không trái với quy tắc đạo đức, xã hội thì công luận sẽ ngợi khen, ngược lại, nếu là việc làm sai trái sẽ bị công luận phê phán và lên án.

Bên cạnh đó, tình hình tội phạm hiện nay cũng hết sức phức tạp, xuất hiện nhiều tổ chức phạm tội xuyên quốc gia, thủ đoạn phạm tội cũng hết sức tinh vi, áp lực công việc ngày một cao, số lượng Thẩm phán còn thiếu như Chánh án Trương Hòa Bình đã nói “có làm việc hết công suất ngày đêm cũng chỉ giải quyết được 1/3 công việc”. trong khi đó theo quy định tại Điều 10 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì “trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Như vậy, ngoài chức năng xét xử Thẩm phán còn phải có cả nghĩa vụ chứng minh vụ án đây cũng là một thách thức đối với người Thẩm phán, nếu không cẩn trọng, thiếu trách nhiệm thì người Thẩm phán có thể ra những quyết định chủ quan khi phán quyết về tội danh và hình phạt. Đây cũng là thách thức không nhỏ đối với người Thẩm phán.

Việc gia nhập WTO của Việt Nam tuy mang đến nhiều cơ hội cho Việt Nam nhưng cũng xuất hiện nhiều nhóm tội phạm là người nước ngoài, các tranh chấp thương mại, các vụ án Dân sự, Hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài sẽ ngày một gia tăng. Trong khi đó cũng phải thừa nhận đội ngũ Thẩm phán hiện nay nhiều người chưa thông hiểu luật pháp quốc tế, yếu kỹ năng xét xử, thiếu về ngoại ngữ, để khắc phục tình trạng này là một thách thức lớn đối với đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, đã đến lúc chúng ta cần phải thay đổi phương pháp đào tạo cần có sự phối hợp với các tổ chức quốc tế và Tòa án các nước để các Thẩm phán được trao đổi kinh nghiệm và chuyên môn về pháp luật, chương trình giảng dạy tại trường Đại học Luật cần coi trọng việc nâng cao kỹ năng tiếng Anh và các ngoại ngữ khác, các Thẩm phán cần tập trung tìm hiểu và học hỏi những yêu cầu pháp lý mới xuất hiện như lĩnh vực thuế, Luật thương mại quốc tế, khu vực, thị trường chứng khoán, thương mại điện tử…

Bên cạnh những thách thức và áp lực về công tác chuyên môn, thì Thẩm phán hiện nay còn phải đối diện với một thách thức không nhỏ đó là chế độ đãi ngộ, mặc dù đã có sự ưu đãi hơn song vẫn phải khẳng định hiện nay lương của Thẩm phán là quá thấp, chế độ không rõ ràng như lương của Thẩm phán cấp huyện khởi điểm là 2,34 cao nhất cũng chỉ là 5,44 tính cả phụ cấp thì mức lương dao động cũng chỉ từ 2 – 4,5 triệu đồng với vật giá đắt đỏ như hiện nay thì Thẩm phán rất khó sống bằng đồng lương. Chính vì vậy, đã có số ít Thẩm phán không giữ được phẩm chất đạo đức nghề nghiệp người Thẩm phán, không vượt qua được những cám dỗ về vật chất, vi phạm những quy tắc đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán, dẫn đến tỷ lệ án bị hủy, sửa còn cao. Thậm chí có những Thẩm phán đã vi phạm pháp luật hình sự bị truy tố trước pháp luật, làm giảm sút lòng tin của nhân dân. Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi thiết nghĩ Nhà nước cần phải coi Thẩm phán là một nghề đặc biệt, cần có chế độ ưu đãi đối với đội ngũ Thẩm phán nói riêng và cán bộ ngành Tòa án nói chung, làm sao để họ và gia đình có thể sống bằng đồng lương của họ, có như vậy họ mới không phải có những lấn bấn riêng tư, sẵn sàng dẹp bỏ tình riêng để thực hiện phép công, để mang lại một bản án thực sự công bằng, đúng pháp luật.

4. Cơ chế xử lý vi phạm liên quan đến Thẩm phán.

Mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức đối với đội ngũ Thẩm phan nói riêng và cán bộ ngành Tòa án nói chung, song việc giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán luôn được lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao hết sức coi trọng. Bên cạnh việc ban hành các quy tắc nghề nghiệp, quy tắc ứng xử, Tòa án nhân dân tối cao hàng năm còn mở nhiều đợt tập huấn về chuyên môn, các cuộc hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng cho các Thẩm phán trong việc giải quyết các vụ án theo trình tự thì Tòa án nhân dân tối cao cũng có những cơ chế xử lý hết sức nghiêm khắc đối với các vi phạm liên quan đến việc vi phạm đạo đức nghề nghiệp người Thẩm phán như:

- Đối với những Thẩm phán có những hành vi tiêu cực thì lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao kiên quyết xử lý nghiêm hoặc không can thiệp vào việc xử lý của các cơ quan tố tụng khác.

- Hàng năm khi bình xét thi đua, nếu đơn vị và Thẩm phán nào để số lượng án bị hủy quá 1,16% và án bị sửa quá 4,2% do lỗi chủ quan của Thẩm phán thì đơn vị đó không được xét thi đua và Thẩm phấn đó sẽ phải làm kiểm điểm và cũng không được bình xét thi đua.

- Trong một nhiệm kỳ 5 năm Thẩm phán nào bị sửa, hủy án quá tỷ lệ quy định hoặc cho bị cáo hưởng án treo không đúng gây dư luận không tốt tại địa phương thì Thẩm phán đó sẽ không được tái bổ nhiệm làm Thẩm phán (Trong năm 2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao cũng quyết định chưa tái bổ nhiệm đối với 82 Thẩm phán Tòa án nhân dân địa phương với lý do trên).

Tuy nhiên, do đặc thù nghề nghiệp của Thẩm phán thường xuyên đối mặt với mặt trái của xã hội, để bảo vệ công lý không ít Thẩm phán đã bị xâm hại đến quyền lợi của mình kể cả về danh dự, nhân phẩm, tính mạng và sức khỏe nhưng cho đến nay việc xử lý nghiêm những hành vi đó là hết sức cần thiết, nhưng theo chúng tôi Nhà nước cần quy định chính sách bảo vệ Thẩm phán hạn chế tối đa những hành vi xâm phạm đến quyền lợi của Thẩm phán. Chính vì chưa có quy định bảo vệ Thẩm phán nên đã có những trường hợp nhà của Thẩm phán ở Bắc Giang bị đặt mìn nhiều lần mới bắt được thủ phạm hay Thẩm phán Loan ở Hà Nội bị tạt axit hủy hoại cả khuôn mặt. Tuy kẻ thủ ác đã bị trừng trị nhưng vết thương trên thân thể những người Thẩm phán lại theo họ suốt quãng đời còn lại. Đây chính là những thiệt thòi không thể bù đắp được đối với những người Thẩm phán đã xả thân để công lý được thực thi.


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 695
cdscv